Hợp tác đào tạo

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH KHU VỰC VIỆT BẮC

14 Tháng Mười Một 2018          1435 lượt xem

 

Đặt vấn đề

Trong quá trình phát triển hoạt động du lịch, ngoài rất nhiều các yếu tố liên quan khác, phát triển nguồn nhân lực luôn là vấn đề quan trọng được quan tâm đặc biệt. Do nhiều lý do, tuy nhiên, cơ bản nhất vẫn do đặc thù của quá trình chuyển giao và cung cấp dịch vụ du lịch diễn ra trong thực tế, sự hiện diện của con người, vai trò của người lao động trong lĩnh vực du lịch rất quan trọng, quyết định chất lượng dịch vụ du lịch, nâng cao hình ảnh du lịch quốc gia và các điểm đến. Khu vực Việt Bắc, có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, tuy nhiên thực tế cho thấy việc khai thác các tiềm năng đó để phát triển du lịch vẫn chưa đạt mong muốn trong đó có vấn đề nguồn nhân lực chưa đạt yêu cầu.

Trao đổi này sẽ dựa trên cơ sở các yêu cầu của phát triển nguồn nhân lực du lịch và thực trạng nguồn nhân lực và hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch của khu vực, đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch của khu vực trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu, chủ trưởng của Đảng và Nhà nước và bối cảnh Hội nhập và cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay.

1. Các yêu cầu của phát triển nguồn nhân lực du lịch

1.1.  Yêu cầu về cơ cấu ngành nghề

Để đảm bảo hiệu quả và phát huy tối đa năng lực làm việc của đội ngũ lao động, tăng cường hiệu suất và hiệu quả kinh doanh, nguồn nhân lực cần được quan tâm phát triển đủ về số lượng tuy vậy cần đảm bảo đủ cơ cấu và chất lượng chuyên môn nghiệp vụ.

Xem xét về cơ cấu lao động trong du lịch, có thể phân loại theo lao động gián tiếp (lao động quản lý) và lao động nghiệp vụ. Lao động quản lý bao gồm các dạng lao động trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, đội ngũ lãnh đạo các doanh nghiệp. Lao động nghiệp vụ là những lao động làm việc trực tiếp cung cấp các dịch vụ du lịch như đã nêu trên. Về cơ bản, cơ cấu lao động được phân chia theo 3 nhóm cơ bản dưới đây.

Nhóm thứ nhất, đội ngũ quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch. Đội ngũ này được đào tạo từ các cơ sở đào tạo hoặc chuyển nành từ nhiều ngành khác nhau trong xã hội hoặc được phát triển từ các doanh nghiệp du lịch.

Nhóm thứ hai, nhóm lao động quản lý tại các doanh nghiệp (cấp trưởng, phó phòng trở lên), bao gồm đội ngũ các quản lý cấp cao và trung trong các doanh nghiệp du lịch. Đội ngũ này có thể được đào tạo từ các cơ sở đào tạo, chuyển từ các cơ quan quản lý nhà nước và phát triển từ các nhân viên bậc thấp trong doanh nghiệp.

Nhóm thứ ba, nhóm lao động nghiệp vụ. Đây là nhóm lao động có số lượng nhiều nhất và đa dạng về chuyên môn nghiệp vụ. Cụ thể là lao động trong các bộ phận lễ tân đón tiếp, phục vụ buồng, phục vụ nhà hàng, pha chế đồ uống, nhân viên nấu ăn, hướng dẫn viên du lịch, thuyết minh viên du lịch, nhân viên điều hành tour và đại lý du lịch, các nhân viên khác.

Phát triển đội ngũ đảm bảo đủ về số lượng, cung cấp đủ cho các cấp độ quản lý nhà nước và doanh nghiệp du lịch trong phục vụ khách du lịch. Việc đảm bảo về số lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp du lịch là cơ sở để cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu, tiêu chuẩn đặt ra đối với chất lượng dịch vụ đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Việc chuẩn bị đủ cơ cấu về số lượng lao động quản lý và lao động nghiệp vụ sẽ đảm bảo chất lượng cho cả một hệ thống vận hành từ việc xây dựng chủ trương chính sách, quy hoạch, quản lý nhà nước đến hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ du lịch tăng tính cạnh tranh cho du lịch của từng địa phương và cả khu vực.

Đảm bảo yêu cầu về cơ cấu ngành nghề phù hợp với yêu cầu của các doanh nghiệp du lịch. Đây là một nội dung có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Trong lĩnh vực du lịch, có rất nhiều lĩnh vực dịch vụ cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác nhau, mỗi lĩnh vực đòi hỏi có lực lượng đội ngũ đảm bảo về số lượng để chất lượng dịch vụ đó đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.

1.2. Yêu cầu về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Đảm bảo yêu cầu chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp trong quá trình cung cấp các dịch vụ. Thực tế cho thấy, số lượng nguồn nhân lực có thể đủ, tuy nhiên chất lượng chuyên môn nghiệp vụ lại quyết định chất lượng của tất cả các công đoạn của hoạt động du lịch từ quản lý nhà nước đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của các doanh nghiệp. Vấn đề chuyên môn nghiệp vụ có vai trò quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng, từ quy hoạch, quản lý chuyên môn, quy trình, cách thức phục vụ, kỹ năng giao tiếp, hiểu biết về tâm lý khách hàng, làm cho khách hàng thỏa mãn và đánh giá cao chất lượng và hình ảnh điểm đến du lịch.

1.3. Yêu cầu về ngoại ngữ và phong cách phục vụ

Đội ngũ lao động cần đảm bảo yêu cầu về kiến thức ngoại ngữ trong giao tiếp và phục vụ khách du lịch quốc tế. Đồng thời, cần đảm bảo kiến thức về hội nhập quốc tế và kỹ năng làm việc với các đối tác nước ngoài. Bổ sung kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc nhóm và các kỹ năng liên quan cần thiết khác.

Cần thiết phải định hình phong cách, tận tụy, rèn luyện tính nhạy cảm trong cung cấp các dịch vụ du lịch. Dịch vụ và sản phẩm du lịch có tính đặc thù, không có hình thái cụ thể. Trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, khách du lịch cần phải di chuyển, tiêu dùng từng phần, từng công đoạn của quá trình cung cấp và chuyển giao dịch vụ trực tiếp từ phía các nhân viên phục vụ và những lao động có liên quan. Quá trình cung cấp và chuyển giao dịch vụ trên đây là một quá trình rất nhạy cảm, khách du lịch dễ bị tổn thương do không thỏa mãn nhu cầu trong quá trình tiêu dùng, do vậy, nhân viên phục vụ ngoài các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ cần rèn luyện tính nhạy cảm nghề nghiệp nắm bắt được phản ứng của khách hàng trong quá trình cung cấp các dịch vụ du lịch, từ đó định hình cho mình phong cách phục vụ phù hợp. Có như vậy, chất lượng dịch vụ du lịch mới đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch đặc biệt là khách du lịch quốc tế.

2. Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực du lịch khu vực Việt Bắc

2.1. Thực trạng nguồn nhân lực vùng Việt Bắc

          Việt Bắc nằm trong khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ, gồm 6 tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang. Với đặc thù là căn cứ cách mạng, nơi ghi dấu các chiến công hào hùng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Bắc được gọi là  Thủ đô gió ngàn. Bên cạnh đó, đây là địa bàn quan trọng của cả nước, có nhiều tiềm năng, lợi thế về nông lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu.

Về lĩnh vực du lịch, khu vực Việt Bắc có tiềm năng du lịch đa dạng, phong phú với đặc điểm nổi bật bao gồm hệ sinh thái, bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, các di tích lịch sử văn hóa có giá trị. Các điểm tài nguyên nổi bật có giá trị phát triển du lịch, đã và đang được khai thác để phát triển du lịch như: Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Hồ Ba Bể (Bắc Kạn), Pắc Pó, Bản Giốc (Cao Bằng), Tân Trào, Nà Hang (Tuyên Quang), ATK Định Hóa, Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), Mẫu Sơn (Lạng sơn). Bên cạnh các danh lam thắng cảnh đẹp, di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng nổi tiếng, vùng Việt Bắc còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa phi vật thể có giá trị như: Lễ cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo, Lễ cúng tổ tiên của dân tộc Lô Lô, chữ viết của người Dao; nghệ thuật hát Then - đàn Tính của dân tộc Tày…

Đặc biệt, Khu vực này còn có 2 địa điểm được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu gồm: Cao nguyên đá Đồng Văn và Non nước Cao Bằng, rất có giá trị để khai thác phát triển du lịch. Các yếu tố trên đây đã  tạo nên cho khu vực một hệ thống các tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng với nhiều tiềm năng để phát triển các sản phẩm du lịch có thế mạnh, thu hút khách du lịch.

Trong Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được phê duyệt, Khu vực Việt Bắc có thể coi là một tiểu khu vực thuộc một trong bảy Vùng du lịch của cả nước là Vùng Du lịch Trung Du và miền núi Bắc Bộ, định hướng phát triển sản phẩm đặc trưng của Vùng bao gồm: du lịch về nguồn tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam; tham quan, nghiên cứu hệ sinh thái núi cao, hang động; nghỉ dưỡng núi; nghỉ cuối tuần; thể thao khám phá; du lịch gắn với hoạt động thương mại các cửa khẩu. Trong đó, các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch khu vực Việt Bắc gồm: Thái Nguyên - Lạng sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, ATK Tân Trào, Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang, Xín Mần... Cao Bằng gắn với Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng vừa được UNESCO vinh danh...

Các khu du lịch quốc gia tại khu vực này sẽ được quy hoạch và tập trung phát triển bao gồm: Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu du lịch quốc gia Thác Bản Giốc, Khu du lịch quốc gia Mẫu Sơn, Khu du lịch quốc gia Hồ Ba Bể, Khu du lịch quốc gia Tâm Trào và Khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc. Các điểm quốc gia thuộc khu vực Việt Bắc gồm: Điểm du lịch quốc gia Pắc Bó, Điểm du lịch quốc gia TP. Lạng Sơn.

Việc phát triển du lịch của vùng được quan tâm phát triển, tuy nhiên yếu tố nguồn nhân lực du lịch của khu vực còn nhiều bất cập. Cụ thể, về số lượng, theo đánh giá và dự báo trong Quy hoạch phát triển nhân lực du lịch giai đoạn 2011-2020, số lượng lao động trực tiếp trong lĩnh vực du lịch của khu vực Trung du và miền núi phía Bắc dự báo năm 2020 sẽ đạt là 60.000 người, số lượng lao động này được tính bao gồm cả nhân lực các tỉnh thuộc khu vực Việt Bắc và các địa phương khác của khu vực Tây Bắc và hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Như vậy, lượng lao động trong vùng Việt Bắc nếu bóc tách khỏi Vùng du lịch Trung du và miền núi phía Bắc sẽ không nhiều.

- Tình hình đáp ứng nhu cầu của công việc hiện nay:

Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước được quan tâm đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, tuy nhiên, với nhiều lĩnh vực liên quan thì năng lực của đội ngũ còn có những hạn chế nhất định. Cụ thể: kỹ năng giao tiếp, đàm phán; kiến thức quản lý, lãnh đạo, ngoại ngữ, tin học… và cả về năng lực chuyên sâu: hoạch định chính sách; quy hoạch, bảo tồn tài nguyên, kế hoạch phát triển du lịch; thống kê du lịch; quản trị du lịch; nghiên cứu thị trường; marketing, xúc tiến, quảng bá du lịch; quản lý phát triển các loại hình du lịch… đều còn có hạn chế.

- Đối với đội ngũ lao động quản lý, tình hình đáp ứng nhu cầu của công việc hiện nay: còn nhiều hạn chế và bất cập về quản lý kinh doanh du lịch, chưa có cán bộ chuyên sâu về marketing, kế hoạch kinh doanh và xúc tiến du lịch

- Đối với đội ngũ lao động nghiệp vụ, đại đa số lao động trong ngành du lịch của vùng chủ yếu là lao động phổ thông ở trình độ thấp, ngoài ra họ chủ yếu là lao động tự do không có tay nghề cơ bản nên kiến thức và kỹ năng rất hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi trong kinh doanh du lịch. Xét về trình độ đào tạo, thì đa số là lao động phổ thông, còn trình độ đại học và tương đương có tuy nhiên chủ yếu lại tập trung ở cơ quan quản lý nhà nước. Khả năng ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin còn hạn chế. Về cơ cấu lao động, chưa cân đối, chủ yếu tập trung vào lao động trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch và liên quan khác còn thiếu.

Hầu hết lực lượng lao động trong ngành du lịch của khu vực được chuyển công tác từ các bộ phận và chuyên ngành khác nhau đến làm du lịch vì thế kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn về du lịch chủ yếu được tiếp thu qua các lớp tập huấn ngắn ngày, qua học tập kinh nghiệm… nên hiện nay số lao động trong chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, quản lý và kinh doanh hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng du lịch sẵn có. Tình trạng trên cho thấy năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ hiện tại còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu chung của phát triển du lịch của khu vực. Do đó, việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển du lịch là đòi hỏi bức thiết.

2.2. Tình hình phát triển nguồn nhân lực du lịch khu vực hiện nay

- Các cơ sở đào tạo và tình hình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hiện nay

Hiện nay, vùng Việt Bắc đã có hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực nói chung và có cơ sở đào tạo nhân lực du lịch nói riêng. Những cơ sở đào tạo chính trong hệ thống bao gồm: Đại học Thái Nguyên đào tạo các ngành hệ đại học như: Quản trị kinh doanh Du lịch và Khách sạn, Du lịch học; đào tạo hệ cao đẳng và thấp hơn có Cao đẳng Thương mại và Du lịch Thái Nguyên đào tạo đa ngành cả chuyên nghiệp và đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch; Cao đẳng văn hóa, nghệ thuật Việt Bắc đào tạo ngành Việt Nam học (chuyên ngành Hướng dẫn du lịch, hiện nay không triển đào tạo nữa); Trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn đào tạo ngành Việt nam học (chuyên ngành Hướng dẫn viên), Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Lạng Sơn đào tạo hệ trung cấp một số chuyên ngành như Nghiệp vụ lễ tân, hướng dẫn du lịch và nghiệp vụ khách sạn, nhà hàng...

Ngoài ra còn có các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực như các Trung tâm dạy nghề, Trung tâm giáo dục thường xuyên của các địa phương trong khu vực có tham gia tổ chức đào tạo, bồi dưỡng. Tuy vậy, tại các cơ sở đào tạo hiện có, còn thiếu đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm, cơ sở thực tập, thực hành còn hạn chế... đã ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo. Mặt khác, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp về du lịch đều phải thông qua liên kết đào tạo bằng cách gửi đào tạo tại các cơ sở đào tạo ở các địa phương khác hoặc mời giáo viên từ các cơ sở này đến giảng dạy, nhưng việc phối hợp đào tạo này vẫn còn hạn chế, vì vậy đã dẫn đến tình trạng thiếu lao động nghiệp vụ để phục vụ trong du lịch.

- Các hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực du lịch

Thứ nhất: Đào tạo tại chỗ, hiện nay các cơ sở đào tạo trên địa bàn như đã nêu trên, triển khai các khóa đào tạo thu hút người học tại địa phương đặc biệt là con em các dân tộc thiểu số, để tổ chức đào tạo dài hạn và ngắn hạn theo quy định. Tuy vậy, các cơ sở đào tạo chủ yếu tập trung ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các địa phương khác, như Bắc Cạn, Hà Giang, Cao Bằng chưa có cơ sở đào tạo có các chương trình đào tạo mang tính dài hạn.

Thứ hai: Hiện nay, các địa phương thuộc khu vực này đều triển khai phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ theo hướng liên kết đào tạo bồi dưỡng với bên ngoài. Hầu hết, địa phương đang tổ chức liên kết với các cơ sở đào tạo ngoài khu vực, các cơ quan quản lý và các chương trình dự án để mở các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức quản lý. Như vậy, để phát triển nguồn nhân lực du lịch, hoạt động liên kết trong phát triển nguồn nhân lực đã được các địa phương trong vùng quan tâm triển khai trong thời gian vừa qua đã đem lại những hiệu quả nhất định cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành Ddu lịch của Khu vực.

Thứ ba: Ngoài ra, các địa phương còn được thừa hưởng Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện, nhiều cư dân cộng đồng địa phương, các đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch để phát triển du lịch cộng đồng, nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo.

Thứ tư: Con em người dân địa phương thuộc khu vực đã dự tuyển và đã được học tập tại các cơ sở đào tạo trên cả nước về chuyên môn du lịch, đội ngũ này sau khi tốt nghiệp, trong số đó một phần sẽ quay về địa phương để tham gia phát triển ngành du lịch địa phương.         

3. Định hướng và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Việt Bắc trong giai đoạn hiện nay

3.1. Bối cảnh

Ngành du lịch được quan tâm tập trung phát triển trong thời gian qua, nhiều chủ chương, chính sách và hệ thống pháp luật đã được ban hành, điển hình như Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Luật Du lịch năm 2017 đã được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ tháng 1 năm 2018..., theo đó tất cả các cấp, các ngành, các địa phương đều đã triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW theo chức năng nhiệm vụ của mình.

Bên cạnh đó, bối cảnh Hội nhập lĩnh vực du lịch, thực hiện thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề trong lĩnh vực du lịch được thực hiện trong khối các nước ASEAN (MRA-TP), các thống nhất của các quốc gia trong Diễn đàn kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)...  Mặt khác, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đã và đang có ảnh hưởng tới hoạt động, các lĩnh vực, các khía cạnh của ngành Du lịch trong đó có phát triển và sử dụng nguồn nhân lực du lịch.

Bối cảnh tình hình như vậy đòi hỏi hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch nói chung, của khu vực Việt Bắc nói riêng cần có những định hướng và giải pháp phù hợp.

3.1. Định hướng cơ bản phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Việt Bắc

Đảm bảo phát triển đủ số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đầy đủ các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch, đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch, góp phần thu hút khách du lịch, phát triển ngành du lịch địa phương góp phần phát triển kinh tế xã hội của khu vực. Chú trọng tới phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, đảm bảo cho người dân địa phương được đào tạo bồi dưỡng kiến thức để tham gia phát triển các hoạt động du lịch tại địa phương đáp ứng yêu cầu của tình hình mới cụ thể: thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, thích ứng với hội nhập và cách mạng công nghệ 4.0.

3.2. Một số giải pháp cơ bản phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Việt Bắc

Thứ nhất: Rà soát, xác định nhu cầu phát triển nhân lực theo quy hoạch phát triển ngành du lịch của khu vực và từng địa phương trong khu vực. Trong đó xác định rõ nhu cầu về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực của khu vực và từng địa phương phù hợp với cơ cấu nhân lực của toàn khu vực. Trú trọng đến các chuyên môn nghiệp vụ thích ứng với khai thác các sản phẩm liên quan đến Cao nguyên đã Đồng Văn và Non nước Cao Bằng.

Thứ hai: Triển khai hoạt động rà soát, đánh giá năng lực đào tạo, bồi dưỡng các chuyên ngành du lịch của hệ thống các cơ sở đào tạo trong khu vực và từng địa phương. Xác định cụ thể khả năng tự triển khai hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu cần liên kết với bên ngoài. Từ đó, xây dựng được kế hoạch và lộ trình cụ thể để triển khai liên kết phát triển nguồn nhân lực du lịch cho khu vực.

Thứ ba: Nâng cao nhận thức và có kế hoạch triển khai cụ thể việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ, công nghệ 4.0 trong quản lý và đào tạo, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực du lịch, đáp ứng với tình hình mới.

Thứ tư: Các địa phương trong khu vực cần đặc biệt chú trọng công tác liên kết phát triển nguồn nhân lực du lịch trên cơ sở  duy trì và tăng cường các mối quan hệ liên kết với các chủ thể trong nội bộ khu vực, đặc biệt là địa phương có nhiều cơ sở đào tạo như Thái Nguyên và ngoài khu vực trên cơ sở phát huy, nâng cao dần khả năng đáp ứng tại chỗ về nhu cầu nguồn nhân lực du lịch của khu vực và từng địa phương. Tăng cường liên kết với địa bàn gần như một số địa phương có cơ sở đào tạo như Sơn La, Yên Bái và Điện Biên khu vực Tây Bắc trong đào tạo và phát triển du lịch.

Thứ năm: Tăng cường các hình thức đào tạo bồi dưỡng có trọng tâm trọng điểm đối với các lĩnh vực chuyên môn của ngành du lịch; tăng cường hoạt động gửi con em người dân địa phương, đồng bào dân tộc đủ điều kiện đi học theo hình thức cử tuyển tại các cơ sở đào tạo chuyên môn du lịch để sau khi học tập quay về địa phương làm việc. Tăng cường các lớp bồi dưỡng kiến thức giao tiếp, kiến thức quản lý du lịch cho các đối tượng có liên quan để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ đảm bảo điều kiện quan trọng trong phát triển du lịch khu vực và từng địa phương.

Thứ sáu: Khai thác triệt để các nguồn lực từ bên ngoài như các dự án của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các tổ chức quốc tế liên quan đến phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Kết luận

Như vậy, Việt Bắc là một khu vực có tiềm năng phát triển du lịch đa dạng và phong phú, nhiều loại hình du lịch và sản phẩm du lịch có thể được khai thác và phát triển. Trong thời gian qua, các địa phương trong khu vực đã tích cực triển khai các hoạt động phát triển nguồn nhân lực để phục vụ cho phát triển ngành, đóng góp cho sự phát triển kinh tế của địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, các địa phương trong khu vực cần có những kế hoạch cụ thể trong thời gian tới đây để đẩy mạnh, tăng cường năng lực của nguồn nhân lực du lịch của các địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch của khu vực trong thời gian tới thích ứng với bối cảnh và tình hình mới.

 

Tài liệu tham khảo chủ yếu

  1. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ban hành theo Quyết định số 2473/QĐ-TTg, ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
  2. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Ban hành theo Quyết định Số 201/QĐ-TTg, ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
  3. Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2010-2020, Ban hành kèm theo Quyết định số 3066/QĐ-BVHTTDL ngày 29/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
  4. Lê Anh Tuấn (2014), Liên kết phát triển nguồn nhân lực du lịch Vùng Tây Bắc, Hội thảo Liên kết phát triển du lịch Tây Bắc, 5/2014, Điện Biên.
  5. Lệ Thủy (2013), Qua những miền di sản Việt Bắc: Liên kết để khai thác tiềm năng, http://www.backantv.vn/trong-tinh/qua-nhung-mien-di-san-viet-bac-lien-ket-de-khai-thac-tiem-nang/11853.html

                                                                                                                                   PGS. TS. Lê Anh Tuấn