Hợp tác đào tạo

KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

05 Tháng Mười Một 2018          4185 lượt xem

Nghệ thuật truyền thống của Việt Nam rất đa dạng và đã có hàng ngàn năm lịch sử. Có được những hiểu biết cơ bản về nghệ thuật truyền thống Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo ý thức giúp mỗi người biết trân trọng và gìn giữ những di sản vô giá này của dân tộc.

1. Khái quát về nghệ thuật truyền thống Việt Nam

Việt Nam sở hữu một hệ thống các loại hình nghệ thuật truyền thống vô cùng đồ sộ, trải dài khắp các vùng miền và rất khó xác để định hiện tại ở nước ta đang tồn tại bao nhiêu loại hình nghệ thuật truyền thống. Theo dánh giá sơ bộ, chiếm khoảng 70% các loại hình nghệ thuật truyền thống Việt Nam là các môn nghệ thuật biểu diễn và nhạc cổ truyền, ngoài ra còn có nghệ thuật tạo hình, kiến trúc,…

Nghệ thuật truyền thống Việt Nam đóng vai trò thể hiện bản sắc riêng biệt của dân tộc Việt Nam, là một phần quan trọng cấu thành nên cốt cách, tinh thần và văn hóa người Việt, là một phần lịch sử và tự hào dân tộc.

Nghệ thuật truyền thống cũng đóng vai trò quan trọng trong cả đời sống vật chất và tinh thần người Việt. Việt Nam được biết đến như một trong những đất nước có nhiều lễ hội truyền thống nhất trên thế giới với khoảng 8.000 lễ hội lớn nhỏ mỗi năm, và trong mỗi lễ hội đó không thể thiếu những màn biểu diễn nghệ thuật cổ truyền đặc sắc và ấn tượng.

2. Một số loại hình nghệ thuật truyền thống Việt Nam tiêu biểu

2.1.  Chèo

Chèo là loại hình nghệ thuật truyền thống giàu tính dân tộc của Việt Nam, ra đời từ thế kỉ X và phát triển mạnh mẽ ở miền Bắc. Cố đô Hoa Lư - Ninh Binh được coi là đất tổ của nghệ thuật chèo. Loại hình sân khấu này mang tính quần chúng và thường xuất hiện trong hội hè. Ngôn ngữ chính trong chèo là ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, cách nói ví von trữ tình.

Chèo phản ánh mọi tư tưởng và bản sắc dân tộc Việt, đó là sự lạc quan, yêu đời, lòng nhân ái, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, sức mạnh kiên cường trong đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc.

2.2. Tuồng

Nghệ thuật hát tuồng, hay còn có tên gọi khác là hát bộ, hát bội hay luông tuồng, được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng có nguồn gốc từ ca vũ dân tộc truyền thống.

Diễn xuất trong nghệ thuật tuồng thiên về tính ước lệ, nghĩa là các nghệ sĩ sẽ biểu diễn một cách khuếch đại hơn sự thật ngoài đời, động tác diễn ra cường điệu và nhanh hơn. Ngôn ngữ của tuồng thì phải dùng giọng thật to, cao và rõ. Nói lối là điệu hát quan trọng nhất trong hát bội, nghĩa là nói một lúc rồi hát.

Màu sắc hóa trang trong loại hình nghệ thuật này thường là trắng, đỏ, xanh và đen. Mỗi màu sắc lại tượng trưng cho nét tính cách nhân vật khác nhau. Ví dụ, những nhân vật có diện mạo xinh đẹp, tính cách trầm tĩnh thường được sơn mặt màu trắng. Ngược lại, người mặt rằn sẽ có diện mạo xấu xí và tính tình nóng nảy.

2.3. Cải lương

Cải lương có nguồn gốc và phát triển mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam, là sự kết hợp của đờn ca tài tử và dân ca Nam Bộ và nhạc tế lễ.

Ban đầu, các vở cải lương thường có nội dung về các tích xưa, có nét giống với hát bội. Sau này, dần dần đề tài của cải lương nói về tin tức xã hội mới, thì lại có nét giống với kịch nói.

Điều đặc biệt của cải lương là khi biểu diễn, không chỉ có các diễn viên mà luôn phải có dàn nhạc đi kèm. Dàn nhạc này không chỉ có nhiệm vụ phụ họa cho giọng hát chính của diễn viên mà còn góp phần làm nổi bật chiều sâu tâm lý nhân vật, tạo nên sự kịch tính và thành công cho buổi biểu diễn.

2.4.  Múa rối nước

Múa rối nước là môn nghệ thuật truyền thống và sáng tạo độc đáo của người Việt Nam. Đến nay, múa rối nước đã trải qua hơn 1.000 năm hình thành và phát triển, trở thành thú chơi tao nhã của người Việt Nam. Loại hình này phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng và thường được biểu diễn vào các dịp lễ hội, ngày Tết từ quy mô làng đến tỉnh.

Sân khấu biểu diễn được thiết kế gồm mặt nước là sân khấu, hay còn gọi là nhà rối hay thủy đình, phía sau là phông che, được gọi là tấm y môn, xung quanh trang trí cờ, quạt, lọng, voi… Các con rối làm bằng gỗ được trình diễn trên sân khấu nhờ sự điều khiển qua hệ thống dây, sào của các nghệ nhân phía sau phông. Chú Tễu sẽ là người mở đầu, giới thiệu về tiết mục sắp diễn ra.

Âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong biểu diễn trò rối nước. Nó giúp điều khiển tốc độ, nhịp điệu của các động tác, tạo nên không khí truyền thống với các điệu chèo hoặc dân ca Bắc Bộ.

2.5.  Hát  xoan

Hát xoan tổng hợp tất cả các yếu tố như ca nhạc, hát, múa và thường biểu diễn trong các lễ hội mùa xuân đầu năm. Hát Xoan được phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ.

2.6.  Quan họ

Quan họ là một trong những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, chủ yếu ở vùng Bắc Ninh và Bắc Giang. Dân ca quan họ là lối hát đối đáp giữa nam và nữ. Thường hát vào mùa xuân hay mùa thu khi có lễ hội, hát đối giữa cặp này với cặp kia. Nội dung nói về tình cảm đôi lứa, đôi khi là quê hương đất nước.

2.7.  Ca trù - hát ả đào:

Ca trù hay hát ả đào là bộ môn nghệ thuật truyền thống của miền Bắc Việt Nam , rất phổ biến ở thế kỷ XV. Là một thể loại hát nói có sử dụng đàn đáy, phách và trống là các loại nhạc khí đặc trưng của Việt Nam.

2.8.  Hát xẩm

Xẩm là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Xẩm cũng còn được dùng để gọi những người hát xẩm - thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát xẩm còn có thể coi là một nghề.

Xẩm được xem là một hình thức mưu sinh của nhưng người dân nghèo khổ đặc biệt là người khiếm thị, đa số được biểu diễn ở chợ, đường phố, nơi đông người qua lại chứ rất ít được biểu diễn ở những sân khấu lớn.

2.9.  Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây nguyênKhông gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau: Ê-đê, Gia rai, Ba Na, Mạ, Lặc...

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước...), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,...), v.v.

2.10.  Nhã nhạc cung đình Huế

Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam.

3.  Thành tựu nghệ thuật truyền thống Việt Nam

Nghệ thuật truyền thống Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu lớn lao, có được sự ghi nhận từ UNESCO cũng như đông đảo bạn bè, người yêu văn hóa trên thế giới.

Năm 2003, UNESCO công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

Ngày 25/11/2005, UNESCO công nhận Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

Ngày 30/9/2009, UNESCO công nhận Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Ngày 1/10/2009, Ca trù Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Ngày 24/11/2011, UNESCO công nhận Hát Xoan - Phú Thọ, Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

4. Kết luận:

Trong thời kì hội nhập quốc tế, các nền văn hóa khác nhau trên thế giới vẫn đang tiếp cận và xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường và nhiều hình thức. Sự hấp dẫn của những yếu tố nghệ thuật mới mẻ và và sự thay đổi về thị hiếu thưởng thức các loại hình văn hóa dưới tác động của toàn cầu hóa đang có những ảnh hưởng lớn tới sự phát triển các giá trị nghệ thuật truyền thống. Có kiến thức và ý thức thúc đẩy cho nền nghệ thuật truyền thống luôn được phát huy, vượt qua mọi rào cản và giữ vững vị thế trước những loại hình văn hóa hội nhập chính là việc làm hết sức quan trọng nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cũng như khẳng định giá trị nghệ thuật truyền thống Việt Nam ngày càng được mến mộ trong mắt bạn bè quốc tế.

                                       HẢI LONG

Tài liệu tham khảo:

Võ Văn Thành, Du Lịch Việt Nam Qua 26 Di Sản Thế Giới, Nxb Tổng hợp TPHCM.