Hợp tác đào tạo

Nghệ thuật hát xẩm và nhiệm vụ bảo tồn và đào tạo nghệ nhân mới

29 Tháng Mười Một 2018          2797 lượt xem

Hát xẩm là môn nghệ thuật truyền thống đã tồn tại ở Việt Nam từ hơn 700 năm qua. Được coi như một trong những loại hình nghệ thuật độc đáo và mang những giá trị bản sắc cực kì riêng biệt của dân tộc, nhưng nghệ thuật hát xẩm hiện tại đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc được bảo tồn phát huy và đối diện với nguy cơ bị mai một từng ngày.

1. Vài nét về sự phát triển của nghệ thuật hát xẩm

Là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. "Xẩm" cũng còn được dùng để gọi những người hát xẩm - thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát xẩm còn có thể coi là một nghề.

Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào. Ngoài ra xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,... và được cải biên để phù hợp với phong cách đặc trưng của xẩm. Một vài bài xẩm truyền thống nổi tiếng nhất là Xẩm thập ân, Xẩm anh Khóa,… Sau này, tùy theo mục đích sử dụng mà xẩm lại được cải tiến để trở nên phù hợp hơn:  “xẩm nhà trò” để phục vụ tầng lớp nho sĩ , tri thức cũ; “xẩm dân vận” sử dụng trong những ngày tháng trong và sau chiến tranh, hay “xẩm tàu điện” chỉ có tại Hà Nội xưa, hát ngay trên những chuyến tàu điện nhằm phục vụ nhu cầu thẩm mỹ của người dân chốn đô thị, những người vốn am hiểu và có trình độ trong việc thưởng thức văn hóa.

Theo các tài liệu nghiên cứu, hát xẩm được hình thành khoảng thế kỷ thứ XIV. Từ khi ra đời đến khoảng nửa đầu thế kỷ XX, hát xẩm được gọi với những tên khác nhau như hát rong, hát dạo… Nhưng trên thực tế, hát Xẩm là thể loại âm nhạc dân gian chuyên nghiệp, một lối diễn xướng dân gian độc đáo trong kho tàng âm nhạc cổ truyền của dân tộc ta, với lối kể tích sâu sắc, khéo léo và hấp dẫn. Chính vì thế, bên cạnh giá trị nghệ thuật, hát Xẩm còn là loại hình âm nhạc dân gian mang đậm tính nhân văn, thẩm mỹ và giáo dục về đạo đức, lối sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Trong thời phong kiến, hát xẩm là tiếng nói phản kháng lên án những bất công cường quyền, áp bức, những thói hư tật xấu của xã hội, cất lên tiếng nói bênh vực những số phận bất hạnh nghèo khổ bị chà đạp. Sau thời kì chiến tranh, các làn điệu xẩm được các nhạc sỹ, cán bộ văn hóa sử dụng như một công cụ để tuyên truyền chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Nghệ thuật hát xẩm đã trải qua những bước phát triển đầy thăng trầm. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời gian thịnh đạt nhất của hát Xẩm. Lúc này, không còn đơn thuần là loại hình giải trí lúc nông nhàn, Xẩm đã phát triển thành một nghề kiếm sống của người nghèo nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác. Lượng người hát Xẩm đông nhất là thời kỳ Pháp thuộc và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Hát xẩm trở thành món ăn tinh thần của quần chúng lao động. Nó đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, xẩm một kênh truyền thông bằng tiếng hát rất hữu hiệu, đóng vai trò nhất định trong hoạt động địch vận, dân vận. Cách đây hơn nửa thế kỉ, nghệ nhân xẩm Hà Thị Cầu đã từng viết nên cả bài Xẩm “Theo Đảng trọn đời”. Từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện môi trường và xã hội, các phường xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa.

2. Thực trạng

Cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, các nghệ nhân xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành. Đời sống xã hội của nghệ sĩ xẩm không còn, nghệ thuật hát xẩm có lúc tưởng như đã bị lãng quên, đã thất truyền. Kể từ thời điểm năm 2013, khi bà Hà Thị Cầu, người được coi là “báu vật nhân văn sống”, là nghệ nhân hát xẩm cuối cùng của thế kỉ XX qua đời, việc tiếp tục bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát xẩm đã ngày càng đối mặt với nhiều khó khăn hơn.

Khó khăn lớn nhất đến từ sự thay đổi thị hiếu của công chúng. Khi những dòng nhạc hiện đại dễ nghe dễ thuộc đã chiếm hầu hết các thị phần âm nhạc, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên và trung niên thì âm nhạc truyền thống nói chung và xẩm nói riêng rất khó có thêm được những lượng khán giả mới. Ngay cả giữa những loại hình âm nhạc nghệ thuật truyền thống Việt Nam với  nhau, xẩm cũng trở nên thất thế so với Quan họ, Hát xoan... Khi xưa, xẩm xem là một hình thức mưu sinh của nhưng người dân nghèo khổ đặc biệt là người khiếm thị Xẩm đa số được biểu diễn ở chợ,đường phố,nơi đông người qua lại chứ rất ít được biểu diễn ở những sân khấu lớn nên cũng ít được coi trọng hơn. Ngày nay, lực lượng nghệ nhân hát xẩm còn lại quá ít ỏi, các phường xẩm còn lại ở Ninh Bình, quê hương của cố nghệ nhân Hà Thị Cầu, cũng khó có điều kiện và khả năng hoạt động bài bản như các làng quan họ, hát xoan Bắc Ninh.

Trước khi ra đi, nghệ nhân Hà Thị Cầu cũng đã truyền nghề lại cho một số nghệ nhân xẩm mới, và những truyền nhân, những ca nương luôn nỗ lực rất lớn trong việc biểu diễn và truyền bá nghệ thuật hát xẩm. Họ mong muốn về biểu diễn ở các địa phương chứ không chỉ diễn đôi ba buổi trong những dịp kỉ niệm hay những sự kiện cấp tỉnh. Thế nhưng, việc thiếu hụt khán giả lại dẫn tới  phương tiện biểu diễn hạn chế, trang phục thiếu thốn, kinh phí eo hẹp, thị hiếu công chúng thay đổi... tạo nên những thách thức quá lớn đối với những người tâm huyết với xẩm cổ.

3. Định hướng và giải pháp

Để nghệ thuật hát xẩm được bảo tồn và phát huy một cách xứng đáng cũng như ngày càng có thêm những nghệ nhân hát xẩm được đào tạo, thách thức sẽ là không hề nhỏ và trách nhiệm cần được san sẻ cho mỗi cá nhân và ban ngành.

Điều quan trọng nhất cần phải thực hiện đó là làm thế nào để thu hút được sự quan tâm của nhiều người đối với hát xẩm và làm cách nào để những người làm nghệ thuật hát xẩm có thể duy trì được cuộc sống được bằng bằng chính nghề hát xẩm. Là môn nghệ thuật truyền thống, nhưng để tồn tại và phát triển được xẩm cũng cần phải được định hướng để trở nên phù hợp và quen thuộc hơn với khán giả thời đại.

Việc lồng ghép hát xẩm vào những tác phẩm biểu diễn có chủ đề và nội dung hấp dẫn, quen thuộc với nhiều người giống như cách chèo, tuồng vẫn đang thực hiện hay đưa nghệ thuật Xẩm vào trong các trường học dưới hình thức ngoại khóa có thể tạo ra thêm các cơ hội cho người trẻ đến gần hơn với hát xẩm và hiểu hơn về loại hình này. Trên thực tế, hiện tại ngay ở thủ đô Hà Nội tại các phố đi bộ hàng tuần đều có những buổi biểu diễn hát xẩm của các nghệ nhân, thu hút nhiều khán giả trong nước và cả du khách nước ngoài.

Cần có thêm những hình thức quảng bá cho nghệ thuật hát xẩm đến với công chúng. Ngoài việc tích cực viết bài, thông tin về nghệ thuật xẩm hay những buổi biểu diễn hát xẩm nói chung, việc tạo ra các tác phẩm nghệ thuật, phóng sự quảng bá về nghệ thuật xẩm cũng là một phương cách rất đáng lưu tâm. Bộ phim “Xẩm đỏ” của đạo diễn Lương Đình Dũng là một ví dụ, giúp đưa đến cho khán giả cái nhìn về nghệ thuật xẩm cũng như lột tả cuộc sống, tâm tư và nguyện vọng của cố nghệ nhân Hà Thị Cầu một cách khéo léo và chân thực nhất.

Đào tạo một nghệ nhân xẩm thực sự là một điều rất khó khăn, từ những việc hát hay sử dụng nhạc cụ đều cần có sự chuyên tâm của cả người học và người dạy. Dù vậy, bên cạnh việc dạy hát xẩm theo đúng truyền thống, vẫn có thể phát triển những kênh đào tạo mới giúp tiếp cận được nhiều người vốn quan tâm đến nghệ thuật hát xẩm nhưng không thể theo học như một nghề. Giống như nhiều loại hình dân ca khác, xẩm cũng có thể được phát triển để học qua băng đĩa, qua mạng Internet, để hình thành dần tình yêu và phong trào đối với hát xẩm trong cộng đồng, trước khi hướng tới đào tạo sâu hơn đối với những người có nguyện vọng học hát xẩm bài bản.

Cần có thêm những chính sách phù hợp giúp khích lệ và tạo điều kiện cho người nghệ nhân xẩm sống được với nghề. Việc Nhà nước vẫn đang tích cực đệ trình để UNESCO công nhận Hát xẩm là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, theo bước các loại hình nghệ thuật truyền thống đi trước là nguồn động lực lớn để những người nghệ nhân hát xẩm và người yêu loại hình âm nhạc dân tộc này tiếp tục cố gắng bảo tồn, phát triển và đào tạo, để trong một ngày không xa nghệ thuật hát xẩm sẽ được ghi nhận một cách đúng đắn, có vị trí xứng đáng trong mắt nhân dân Việt Nam và cả bạn bè quốc tế.

                          HẢI LONG

Tài liệu tham khảo:

Phương Lan (2011), Hát xẩm - “Nghệ thuật của cội nguồn dân gian”, Báo Tin tức

Ngọc Anh (2013), Đào tạo nguồn cho nghệ thuật hát xẩm, Báo Văn hiến Việt Nam