Hợp tác đào tạo

Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch trong giai đoạn hiện nay

03 Tháng Mười Hai 2018          3627 lượt xem

1. Những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm về việc tổ chức thực hiện chính sách liên quan đến lĩnh vực do đơn vị quản lý

1.1. Những ưu điểm và nguyên nhân

a) Ưu điểm

- Số cơ sở đào tạo, quy mô, ngành nghề, cơ cấu đào tạo ngày càng tăng

 Cơ sở đào tạo ngày càng phát triển, phân bổ theo 3 khu vực lớn trên phạm vi cả nước và tương đối hợp lý theo vùng miền, cơ cấu ngành nghề đào tạo.

- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên, giáo viên được nâng cao

Giáo viên, giảng viên các ngành văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch được bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tỷ lệ có trình độ sau đại học tăng dần.

- Chương trình, giáo trình dần được hoàn thiện

Hiện nay, công tác xây dựng chương trình, giáo trình đang được các trường tích cực triển khai xây dựng, hoàn thiện dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội nhằm đảm bảo xây dựng hệ thống chương trình khung đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

- Đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học được chú trọng

Ngoài nguồn ngân sách nhà nước cấp, các trường đều có kế hoạch tự chủ về tài chính, tạo ra các nguồn tài chính hợp pháp, đáp ứng hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của trường. Công tác quản lý tài chính cũng đã từng bước chuẩn hóa theo đúng quy định của Nhà nước, đảm bảo phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý và hiệu quả cho các đơn vị và các hoạt động của trường.

- Công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu để nâng cao chất lượng đào tạo ngày càng được đẩy mạnh, gắn kết với đào tạo

Hầu hết các trường đều làm tốt công tác xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ. Nhờ đó, hoạt động nghiên cứu khoa học cũng thu được hiệu quả nhất định, đảm bảo gắn kết hài hoà giữa nghiên cứu và giảng dạy của giảng viên, giáo viên trong giai đoạn mới, việc khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học trong các trường tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, thể hiện khả năng tư duy độc lập và luyện tập kỹ năng trình bày ý kiến riêng trên diễn đàn, đó là tiêu chí mà các trường đều hướng thực hiện trong giai đoạn hiện nay.

- Công tác hợp tác quốc tế về đào tạo ngày càng được chú trọng, đẩy mạnh

Các hoạt động hợp tác quốc tế trong các trường đào tạo đã thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước về hợp tác quốc tế. Thông qua các chương trình hợp tác đào tạo, trao đổi học thuật; các chương trình trao đổi liên kết đào tạo, mời giảng viên nước ngoài vào các trường giảng dạy, được đẩy mạnh, mở rộng đã mang lại nhiều kết quả đáng khích lệ.

- Chế độ, chính sách ngày càng thể hiện sự quan tâm hơn đến các lĩnh vực đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch

Các trường Văn hóa nghệ thuật và thể thao được xếp vào loại trường chuyên biệt; giảng viên, giáo viên được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm quy định. Học sinh, sinh viên các bộ môn nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa nghệ thuật được hưởng chế độ ưu đãi theo Quyết định số 82/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005; Quyết định số 41/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

- Kết quả đào tạo và chất lượng sinh viên tốt nghiệp của các trường có khả năng đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc

 Học sinh, sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch sau khi tốt nghiệp ra trường phần lớn phát huy được khả năng tại lĩnh vực công tác của mình. Học sinh, sinh viên năng khiếu tự khẳng định mình trong học tập, giao tiếp, bộc lộ tư chất và phát huy khả năng.

b) Những nguyên nhân của ưu điểm

Thứ nhất, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, được cụ thể hóa thành hệ thống văn bản pháp quy của Chính phủ, các Bộ, ngành, từ định hướng và sự quản lý đúng đắn, kịp thời của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tạo hành lang pháp lý cho công tác đào tạo đi vào nền nếp, bài bản, quy mô và ngày càng phát triển.

Thứ hai, chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội, tạo điều kiện cho sự nghiệp đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch phát triển, tăng quy mô, đa dạng, phong phú về loại hình, ngành nghề đào tạo, hệ thống các trường được mở rộng, huy động mọi nguồn lực, đầu tư của xã hội tham gia vào sự nghiệp đào tạo của ngành, đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng cao trong xã hội.

Thứ ba, sự phân cấp về cơ chế quản lý, giao quyền tự chủ theo Nghị định 43/CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ đã tạo một cơ chế thông thoáng hơn cho các cơ sở đào tạo, tăng quyền chủ động trong quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các trường phát huy năng lực sáng tạo, lựa chọn hướng đi để ổn định và phát triển, thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực với chất lượng cao cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong giai đoạn mới.

Thứ tư, các cơ sở đào tạo chủ động, nỗ lực cố gắng trong sự nghiệp trồng người. Các Bộ, ngành, địa phương nói chung và các Vụ, Cục và Tổng cục trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường quản lý và sát sao trong tổ chức thực hiện.

1.2. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

- Các cơ sở đào tạo tuy đã phát triển nhưng năng lực đào tạo vẫn chưa đồng đều và chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng. Trong khi có nhiều khu vực như Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long có nhu cầu lớn về đào tạo văn hoá nghệ thuật, thể thao và du lịch thì số lượng cơ sở đào tạo còn hạn chế. Đặc biệt có những tỉnh không có cơ sở đào tạo chuyên nghiệp lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch như Lai Châu, Bắc Kạn, Ninh Thuận....

- Đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục còn thiếu về số lượng và trình độ chuyên môn chưa cao: Một số cơ sở đào tạo chưa chú trọng xây dựng kế hoạch dài hạn phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý nên dẫn đến sự hụt hẫng về đội ngũ giảng viên, giáo viên có trình độ chuyên sâu. Hiện nay, số lượng giảng viên, giáo viên được gửi đi đào tạo các ngành, đặc biệt là năng khiếu ở nước ngoài gặp khó khăn vì khả năng ngoại ngữ và kinh phí đào tạo.

- Chương trình đào tạo chậm đổi mới, giáo trình còn thiếu, chưa hoàn chỉnh; nhiều giáo trình không còn phù hợp, chưa được điều chỉnh, cập nhật.

- Cán bộ quản lý đào tạo chưa được đào tạo một cách bài bản, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Một số khâu còn thể hiện tính hạn chế, chậm đổi mới; đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác điều hành.

- Công tác tuyển sinh đầu vào khó khăn, tỷ lệ học sinh theo học năng khiếu nghệ thuật, thể thao ngày càng giảm, nhiều học sinh thực sự có năng khiếu nhưng không theo học; nhiều cơ sở đào tạo nghề du lịch phát triển mạnh trên cả nước, tuy tăng về quy mô đào tạo, nhưng chất lượng dạy nghề không đảm bảo, quản lý hoạt động dạy nghề của các cơ sở gặp khó khăn, cạnh tranh không lành mạnh.

- Công tác khảo thí, kiểm định chất lượng của các cơ sở đào tạo còn hạn chế do nhận thức của cán bộ, giáo viên, giảng viên và học sinh, sinh viên về vấn đề này chưa rõ ràng, sâu sắc. Đội ngũ thực hiện công tác kiểm định chất lượng phần lớn chưa được đào tạo bài bản, chính quy nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai các hoạt động. Kinh phí còn hạn chế, chủ yếu được lấy từ nguồn thu hợp pháp của các trường và chưa có hỗ trợ từ bên ngoài.

- Chế độ giờ giảng cho giảng viên giảng dạy thực hành chưa phù hợp; Chế độ hỗ trợ cho học sinh, sinh viên làm tốt nghiệp bằng tác phẩm chưa có;

- Công tác quy hoạch và bồi dưỡng cán bộ chưa được quan tâm kịp thời; Hoạt động nghiên cứu khoa học còn hạn chế do thiếu kinh phí; Công tác hợp tác quốc tế chưa được mở rộng; sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo ở Trung ương và địa phương chưa được chặt chẽ; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của các trường tuy đã được đầu tư nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ.

- Chưa có sự gắn kết và mối quan hệ thường xuyên, chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng nhân lực. Chưa thu hút được các tổ chức sử dụng nhân lực, trước hết và đặc biệt là các doanh nghiệp vào quá trình đào tạo nhân lực từ khâu tham gia hoạch định chính sách cho đến trực tiếp đào tạo và đóng góp, trợ giúp kinh phí, nơi thực tập, kiến tập cho đào tạo nhân lực. Các cơ sở đào tạo cũng thiếu sự liên kết với nhau, đặc biệt giữa các trường của trung ương và địa phương.

b) Những nguyên nhân của hạn chế

- Các điều kiện đảm bảo chất lượng giảng dạy và học tập như: cơ sở vật chất, phương pháp đào tạo hiện nay chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Một số chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy chưa được đổi mới và cập nhật thường xuyên. Giáo trình, tài liệu học tập, cơ sở thí nghiệm thực hành nhất là đối với các ngành nghệ thuật còn bất cập so với yêu cầu thực tế. Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo nói chung thường chỉ chú trọng ở các đợt tuyển sinh đầu vào và tổ chức thi tốt nghiệp.

- Đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên, giáo viên còn hạn chế về trình độ và chưa đồng bộ về cơ cấu. Tỷ lệ giảng viên, giáo viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có trình độ tiến sĩ trong các trường còn thấp so với yêu cầu. Công tác đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập đã được triển khai song hiệu quả chưa cao. Giảng viên, giáo viên chưa tích cực nghiên cứu và đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy.

- Ngân sách sự nghiệp cho lĩnh vực đào tạo văn hoá nghệ thuật, thể thao và du lịch có tăng nhưng vẫn thấp so với yêu cầu.

- Chế độ chính sách đối với giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên các trường chưa phù hợp; công tác nghiên cứu xây dựng và đề xuất ban hành các chính sách ưu đãi cho đào tạo nghệ thuật còn nhiều hạn chế.

- Năng lực quản lý đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch chưa theo kịp thực tiễn và đáp ứng nhu cầu xã hội; chưa phối hợp tốt và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội; chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lý; chậm đề ra định hướng chiến lược và chính sách vĩ mô để xử lý mối tương quan giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

- Hiện nay, xã hội đã quen với hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, đào tạo nghề đặc biệt là hệ cao đẳng nghề và trung cấp nghề đang ở giai đoạn đầu nên tâm lý xã hội đối với việc học nghề chưa thật sự tích cực, do đó, số lượng dự tuyển còn ít, dẫn đến công tác tuyển sinh tương đối gặp khó khăn.

2. Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đào tạo VHNT, TDTT và DL

Thứ nhất: Công tác tuyển sinh đầu vào khó khăn, tỷ lệ học sinh theo học năng khiếu nghệ thuật hiện nay đang giảm dần, nhiều học sinh thực sự có năng khiếu nhưng không theo học hoặc không thể theo học thường xảy ra. Trong quá trình đào tạo năng khiếu nghệ thuật, nhiều học sinh không thể theo hết khóa học (vì lý do khách quan hoặc chủ quan), vì vậy chênh lệch giữa tổng số tuyển sinh và tốt nghiệp khá lớn. Mặt khác do công tác phân luồng đào tạo giữa các trình độ đào tạo còn nhiều bất cập, người học và gia đình chưa xác định rõ mục đích học tập, tâm lý chung còn nặng về bằng cấp dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực. Đây cũng là thực trạng chung dẫn đến hiện tượng thiếu hụt đầu vào, làm ảnh hưởng đến hiệu quả chất lượng đào.

Thứ hai: Đa số các cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch gặp khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giảng dạy. Nhiều cơ sở gặp vướng mắc trong việc đề nghị bổ sung quỹ đất để xây dựng giảng đường, ký túc xá, thư viện, khu giáo dục thể chất và cơ sở thực hành. Thủ tục và thời gian giải quyết rất chậm trễ ảnh hưởng đến chiến lược phát triển nhà trường. Một số khâu còn thể hiện tính hạn chế, chậm đổi mới; đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác điều hành.

Thứ ba: Công tác tuyển dụng giảng viên, giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với giảng viên, giáo viên chuyên ngành có nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế. Cán bộ quản lý đào tạo chưa được đào tạo một cách bài bản, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Ngày càng ít đi những nhà giáo được nhà nước phong danh hiệu, không có chế độ chính sách để khuyến khích đội ngũ kế cận nâng cao trình độ chuyên môn, học hàm, học vị. Trình độ ngoại ngữ của nhiều cán bộ, giảng viên, sinh viên còn yếu; chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng thành thạo ngoại ngữ như một công cụ để làm việc và giao tiếp. Sinh viên đa số thuộc diện gia đình khó khăn nên việc chi trả học phí và các khoản chi phí cho các khóa học hoặc thực tập tại nước ngoài là khó thực hiện.

Thứ tư: Việc mở mã ngành đào tạo nghệ thuật theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo khó khăn, vì do đặc thù chuyên ngành, tỷ lệ giảng viên nghệ thuật có trình độ thạc sĩ trở lên đối với các trường nghệ thuật còn thấp, đặc biệt các ngành thanh nhạc, nghệ thuật múa, biểu diễn nhạc cụ… Việc chuyển đổi đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo hướng dẫn của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội rất khác so với đăng ký mở ngành theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các trường đào tạo các ngành năng khiếu từ trung cấp, cao đẳng lên đại học (đặc biệt đối với các trường âm nhạc).

Thứ năm: Do đặc thù riêng của các trường khối năng khiếu nghệ thuật, thể dục thể thao nên định mức về diện tích phòng học, tỉ lệ giáo viên/học sinh cũng như các chế độ, chính sách chung khó áp dụng được. Điều này gây rất nhiều khó khăn, vướng mắc cho các trường trong việc thanh toán chế độ, chính sách cho giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo.

Thứ sáu:  Nhiều học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số với nhiều yếu tố, nguyên nhân xã hội, từ các vùng địa bàn huyện miền núi, nông thôn vừa học chuyên ngành nghệ thuật, vừa học văn hóa phổ thông nên bị quá tải, dẫn đến tiếp thu kiến thức chậm, ảnh hưởng đến kết quả học tập của cá nhân cũng như ảnh hưởng đến lớp, đến nhà trường.

Thứ bảy: Hệ thống chương trình đào tạo, giáo trình chuyên ngành chưa có sự thống nhất chung nên gặp nhiều khó khăn trong việc liên kết đào tạo hoặc liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo. Có nhiều ngành, chuyên ngành hay giáo trình có cùng nội dung nhưng tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau dẫn đến khó khăn trong việc thừa nhận kết quả khi chuyển trường cũng như liên thông.

Thứ tám: Công tác kiểm tra, kiểm định chất lượng cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tự đánh giá đối với các trường văn hóa, thể thao và du lịch trên cả nước. Vấn đề này có nguyên do nhận thức của cán bộ, giáo viên, giảng viên và học sinh, sinh viên về vấn đề này chưa rõ ràng, sâu sắc. Đội ngũ thực hiện công tác kiểm định chất lượng còn ít người và chưa được đào tạo bài bản, chính quy nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai các hoạt động. Kinh phí còn hạn chế, chủ yếu được lấy từ nguồn thu hợp pháp của các trường và chưa có hỗ trợ từ bên ngoài.

Thứ chín: Việc chuyển đổi từ hình thức đào tạo niên chế (học phần, học trình) sang hình thức đào tạo tín chỉ đối với các trường đại học theo Quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thực sự là một khó khăn, thử thách lớn đối với các trường khối văn hóa nghệ thuật và thể dục thể thao về mọi mặt. Đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, hạ tầng công nghệ thông tin và tính chất đặc thù của ngành nghề đào tạo là các khó khăn cho việc tổ chức đào tạo theo hình thức tín chỉ.

Thứ mười; Những khó khăn, vướng mắc khác tập trung vào những vấn đề như:  Việc chia tách, sát nhập các cơ sở đào tạo trung cấp, cao đẳng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa 12 ảnh hưởng đến việc xáo trộn trong hệ thống; Việc chuyển đổi cơ quan quản lý nhà nước từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đối với các cơ sở đào tạo trung cấp, cao đẳng ảnh hướng đến hệ thống văn bản, phương thức quản lý, chuyển đổi chương trình, đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tiêu chuẩn giảng viên, giáo viên; Chế độ giờ giảng cho giảng viên giảng dạy thực hành chưa được đáp ứng; Chi phí cho việc xây dựng các tiểu phẩm tốt nghiệp đối với các ngành nghệ thuật đặc thù là rất lớn; Chế độ hỗ trợ cho học sinh, sinh viên làm tốt nghiệp bằng tác phẩm; Trong chương trình đào tạo chưa chú trọng đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên; Công tác quy hoạch và bồi dưỡng cán bộ quản lý chưa được quan tâm kịp thời; Hoạt động nghiên cứu khoa học còn có hạn chế do thiếu kinh phí; Công tác hợp tác quốc tế còn ở phạm vi hẹp; Mối liên hệ giữa các cơ sở đào tạo ở Trung ương và địa phương chưa thực sự hiệu quả.

3. Đề xuất giải pháp 

3.1.1. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên

- Rà soát, điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên theo vị trí việc làm ở các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp theo chủ trương của Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Trung ương Đảng.

- Rà soát, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên đảm bảo tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định đối với từng vị trí và đủ về số lượng, trong đó chú trọng đến đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý, kế cận; Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ (tiếng Anh và các ngoại ngữ khác) cho giảng viên, giáo viên và tiếng Anh tăng cường cho học sinh, sinh viên.

          - Thường xuyên, tăng cường tổ chức bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và sư phạm chuyên ngành cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, giáo viên của các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trên nguyên tắc thiết thực, hiệu quả, ứng dụng thực tế vào công tác giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

3.1.2. Nâng cao năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo

- Thông qua việc hoàn thiện, phát triển hệ thống chương trình, giáo trình, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, giáo viên; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thiết yếu phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học; các cơ sở đào tạo cần tập trung đi sâu vào chất lượng đào tạo, không tuyển sinh chạy theo số lượng; Chú trọng chất lượng và tiêu chí tuyển sinh đầu vào để đảm bảo chất lượng đầu ra.

- Tiếp tục thực hiện mô hình liên kết ba nhà (nhà nước, nhà trường, nhà hát và doanh nghiệp) trong công tác quản lý, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực; Tăng cường mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn của xã hội, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và sự phối hợp giữa nhà trường và đơn vị sử dụng lao động trong quá trình đào tạo; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra tương ứng với mỗi trình độ đào tạo và theo khung trình độ quốc gia Việt Nam với khung tham chiếu trình độ ASEAN để làm cơ sở thực hiện công nhận văn bằng trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; mở các ngành/chuyên ngành/nghề học mới đáp ứng nhu cầu xã hội; chú trọng việc đưa giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên vào chương trình đào tạo.

- Chủ động hợp tác với các đơn vị sử dụng nhân lực, doanh nghiệp, xúc tiến thỏa thuận hợp tác trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội bằng những nội dung hoạt động cụ thể, tránh hình thức; xác định chỉ tiêu, định mức, tiêu chí đối với các ngành/chuyên ngành đào tạo theo cơ chế đặt hàng trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật.

- Đối với các cơ sở đào tạo có đào tạo bậc cao đẳng và trung cấp, cần tích cực, chủ động nắm bắt, tiếp cận với những quy định mới của Luật Giáo dục nghề nghiệp liên quan đến mã ngành nghề, công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và quản lý đào tạo để đảm bảo duy trì ổn định.

- Các cơ sở đào tạo chủ động nắm bắt những thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về lao động trong các nước ASEAN để rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo, giáo trình theo hướng phù hợp với tiêu chuẩn kỹ năng, kiến thức... đã thỏa thuận với quốc tế, đặc biệt là các cơ sở đào tạo lĩnh vực Du lịch cần chủ động nắm bắt, phổ biến tới cán bộ, giảng viên và học sinh sinh viên về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch giữa các nước ASEAN (MRA-TP), tiếp cận với chương trình, giáo trình đào tạo chung ASEAN trong xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình, giáo trình đáp ứng yêu cầu hội nhập và dịch chuyển lao động giữa các nước ASEAN.

3.1.3. Tăng cường công tác đổi mới chương trình, rà soát chuẩn đầu ra; tuyển sinh, tốt nghiệp và quản lý học sinh, sinh viên

- Tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên theo chuẩn đầu ra ngay trong quá trình và theo kết quả từng giai đoạn giáo dục, đào tạo; Tăng cường các điều kiện dạy và học ngoại ngữ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin.

- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Kế hoạch hành động nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; tư vấn, hướng nghiệp, liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng nguồn nhân lực sau tốt nghiệp; đẩy mạnh hoạt động tự kiểm tra và kiểm tra, thanh tra đối với công tác tuyển sinh, thi tốt nghiệp đối với các cơ sở đào tạo nhằm phát huy hiệu quả công tác quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo. Đẩy mạnh liên kết  giữa các cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch từ trung ương đến địa phương.

3.1.4. Tăng cường công tác Hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học

- Các cơ sở đào tạo chủ động và tích cực mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyên giao công nghệ; liên kết đào tạo, trao đổi giảng viên và học sinh viên sinh viên với các cở sở đào tạo có uy tín của nước ngoài.

- Tăng cường nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cho đội ngũ cán bộ giảng viên gắn với nâng cao chất lượng đào tạo; thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng.

3.1.5. Tăng cường công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục

Các cơ sở đào tạo hoàn thành việc đánh giá ngoài và tăng cường công tác kiểm định chất lượng các cơ sở đào tạo, các chương trình đào tạo, chú trọng kiểm định theo các tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

3.1.6. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các Đề án của ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Chú trọng đến công tác đào tạo tài năng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và thể dục thể thao thành tích cao.

3.1.7. Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch trong xu hướng  phát triển của cách mạng 4.0

- Cần thay đổi tư duy quá trình dạy và học. Cần chuyển đổi cách thức giáo dục từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, sinh viên. Nhanh chóng đổi mới mô hình, chương trình và phương pháp giảng dạy, từ khâu tuyển sinh đến khâu đánh giá, kiểm định chất lượng cho đến vị trí việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

- Việc tổ chức giảng dạy qua Internet, sử dụng ứng dụng công nghệ điện toán đám mây, mô hình giảng dạy mới như phòng học ảo, thầy giáo ảo, thiết bị ảo, phòng thí nghiệm, thư viện ảo… dưới sự hỗ trợ của các thiết bị thông minh cần sớm được thực hiện. Phối hợp giảng dạy kiến thức tích hợp giữa nhiều kiến thức có liên quan, chú trọng rèn luyện cho học sinh, sinh viên kỹ năng tự học, tự tìm hiểu và tra cứu tài liệu, biết làm việc nhóm, biết cách xử lý thông tin phù hợp với các tình huống thực tế.

- Triển khai mô hình đại học thông minh 4.0 trong những dự án thí điểm, xây dựng những công cụ thông minh trong quản lý và đào tạo như: thẻ sinh viên đa năng, phần mềm trí tuệ nhân tạo, dữ liệu thư viện, liên kết quốc tế trong đào tạo…

- Mỗi cơ sở đào tạo cần tăng cường hơn nữa đầu tư về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng trung tâm triển khai cập nhật, ứng dụng cách mạng 4.0, tuyên truyền nâng cao hiểu biết, cập nhật kiến thức về công nghệ 4.0 đối với đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên và học sinh, sinh viên nhằm chủ động đối phó với thách thức và nắm bắt cơ hội mà cách mạng 4.0 đem lại, đáp ứng nhu cầu và tính cạnh tranh cao của nguồn nhân lực cho xã hội.

- Tập huấn, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch, đảm bảo chất lượng, số lượng và trình độ đào tạo, chú trọng đào tạo tài năng lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế.

- Các cơ sở đào tạo cần chủ động tìm kiếm các nguồn lực đầu tư bên ngoài, mở rộng các hoạt động đầu tư liên doanh, liên kết trong và ngoài nước về đào tạo, nghiên cứu khoa học phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và luật pháp quy định.

                                                                                                                                                                  ĐTT

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

2. Báo cáo Hội nghị tổng kết công tác đào tạo VHNT, TDTT và DL giai đoạn 2012-2017 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.