Hợp tác đào tạo

Tăng cường xã hội hóa công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch

03 Tháng Mười Hai 2018          2130 lượt xem

1. Quan niệm về xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch

Nếu xem xét xã hội hóa công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch với tư cách là một hệ thống hữu cơ, ở bất cứ góc độ nào, sản xuất đầu tư phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch hay tiêu dùng các dịch vụ đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch, thì xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch trực tiếp gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất lớn trong lịch sử.

Từ đó, dưới góc độ sản xuất đầu tư phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch có thể hiểu: Xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch là sự liên kết nhiều quá trình hoạt động phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch riêng biệt thành quá trình kinh tế-xã hội, tồn tại, hoạt động và phát triển liên tục với tư cách một ngành, như một hệ thống hữu cơ. Đó là quá trình kinh tế khách quan phù hợp với quá trình phát triển cao của lực lượng sản xuất xã hội trong và ngoài ngành đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch, phản ánh xu thế phát triển tất yếu mang tính xã hội của văn hóa, thể thao và du lịch.

Còn dưới góc độ tiêu dùng dịch vụ của mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóahóa, thể thao và du lịch thì xã hội hóahóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch là quá trình chuyển đổi nhu cầu đào tạo văn hóa, thể thao và  du lịch từ nhu cầu đơn lẻ, cao cấp của một số rất ít người thuộc tầng lớp nhiều tiền trở thành nhu cầu phổ biến, thiết yếu của quảng đại quần chúng nhân dân. Tuy nhiên khi nói đến xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch, thì thông thường khái niệm này vẫn được hiểu dưới góc độ “sản xuất đầu tư” phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.

Theo cách hiểu thông thường như vậy, sự vận động và phát triển của xã hội hóahóa công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch được quy định bởi sự phát triển biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nó được biểu hiện ở trình độ phát triển của sự phân công, hiệp tác và liên kết lao động giữa các tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch. Họ kết hợp với nhau để tập trung sức mạnh thu hút người học, nhất là trên lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch, hợp tác xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, giáo trình đào tạo, liên kết tổ chức đào tạo dưới hai hình thức liên kết: Liên kết ngang và liên kết dọc. Liên kết ngang là hình thức trong đó các cơ sở đào tạo văn hóahóa, thể thao, du lịch cùng loại kết hợp với nhau để phát huy thế mạnh bổ sung cho nhau, hạn chế những yếu kém và những bất lợi. Trên thực tế đã xuất hiện nhiều câu lạc bộ, hiệp hội, mạng lưới cơ sở đào tạo. Trong khi đó, dưới hình thức liên kết dọc, các cơ sở đào tạo khác nhau, hợp tác phân công nhau phục vụ quy trình, công đoạn đào tạo kế tiếp nhau của quá trình đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch theo kiểu liên thông.

Bên cạnh đó, xã hội hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóahóa, thể thao và du lịch biểu hiện ở mối liên hệ giữa các ngành, các vùng, các khu vực ngày càng cao và chặt chẽ. Sự liên kết này có tính liên cơ sở đào tạo, liên ngành đào tạo và liên quốc gia.

Nội dung của xã hội hóa “sản xuất đầu tư ” phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch bao gồm ba mặt: Kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - tổ chức và kinh tế-xã hội. Xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịchdu lịch về kinh tế - kỹ thuật có quan hệ đến việc xây dựng hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật đào tạo gắn liền với việc tiến hành công nghiệp hóahóa, hiện đại hóahóa trong lĩnh vực đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch mà các nước đều phải trải qua. Xã hội hóahóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch về kinh tế - tổ chức, mà thực chất là việc tổ chức sản xuất xã hội trong lĩnh vực đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch hoặc liên quan đến đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch với hiệu suất và năng suất lao động cao, tương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong từng thời kỳ và từng quốc gia nhất định. Xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch về kinh tế-xã hội gắn liền với việc xã hội hóa về quan hệ sản xuất xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của ngành đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch, là cả một quá trình phát triển từ thấp đến cao. Ba mặt nói trên của xã hội hóa “sản xuất đầu tư” phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng với xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch dưới cách nhìn tiêu dùng dịch vụ đào tạo văn hóa, thể thao, du lịch tạo nên tính toàn diện của xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch mà trong nhận thức và vận dụng, chúng ta không thể xem nhẹ mặt nào.

Ở nước ta, trong sự nghiệp phát triển đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch, việc xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch cần được hiểu nội dung và hình thức biểu hiện của nó một cách đầy đủ. Có như vậy mới có chính sách nhằm động viên mọi nguồn lực của các tầng lớp nhân dân, tổ chức xã hội và thành phần kinh tế để phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch; nâng cao vai trò và trách nhiệm của các ngành, các cấp trong quản lý phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch. Phát huy lòng hiếu học, thuần phong mỹ tục, tôn sư trọng đạo, huy động nguồn lực để phát triển đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch; Đồng thời tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng thụ các thành quả do công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch đem lại để người dân hưởng ứng và tham gia tích cực vào sự nghiệp phát triển đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.

2. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục hướng nghiệp, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức và nhân dân

          2.1. Về giáo dục hướng nghiệp

Có thể khẳng định trong những năm vừa qua, công tác tuyên truyền, giáo dục hướng nghiệp, nâng cao nhận thức của các tổ chức và nhân dân về phát triển nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch và về phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch đã được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau như tổ chức các chương trình chiếu phim nhân dịp những ngày lễ kỷ niệm quan trọng, tư liệu phát thanh truyền hình giới thiệu về lịch sử, văn hóa, thiên nhiên và phong tục tập quán, trao đổi cán bộ, chuyên gia nghiên cứu; dự các hội thảo, hội nghị, các khóa đào tạo và các hoạt động khác về văn hóa, thể thao và du lịch trong và ngoài nước; Trao đổi thông tin trên các kênh thông tin khác nhau (báo chí, phát thanh, truyền hình…), ấn phẩm và các tài khác liên quan đến các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và du lịch; Trao đổi chương trình và kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao và du lịch.

          Cùng với các hoạt động trên, thời gian vừa qua, sân khấu học đường là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng, của các tổ chức, cơ quan trong bảo vệ các giá trị phát triển trong đó có phát triển nguồn nhân lực văn hóa thể thao và du lịch. Dự án Sân khấu học đường do Cục Nghệ thuật biểu diễn và Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc phối hợp thực hiện đã thu hút sự quan tâm của xã hội. Chương trình đã khơi dậy tình yêu đối với nghệ thuật truyền thống của dân tộc, dường như đang ngày càng nhạt phai trong lòng công chúng, nhất là giới trẻ, những người đang tiếp cận đầy hào hứng với luồng văn hóa mới mẻ của văn minh phương Tây. Ðể thu hút người xem trở lại với những giá trị truyền thống vô cùng quý giá của dân tộc, những người làm nghệ thuật đã không quản khó khăn, thử nghiệm nhiều phương thức để tìm lại khán giả, đặc biệt quan tâm và hướng các hoạt động vào đối tượng khán giả trẻ. Sân khấu học đường ngay lập tức đã thu hút sự quan tâm của nhiều người, bởi mục tiêu chính của dự án là hướng sự quan tâm đến đối tượng công chúng trẻ, rất trẻ, ngay từ khi còn là những em bé đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Dự án cũng đề cập một khái niệm khá mới mẻ: đào tạo khán giả. Người xem được tiếp cận với nghệ thuật truyền thống thông qua một số buổi biểu diễn chọn lọc của các nghệ sĩ sân khấu chuyên nghiệp. Cùng với các trích đoạn tiêu biểu, các nghệ sĩ giao lưu, giới thiệu những nét tiêu biểu, tinh hoa của nghệ thuật truyền thống bằng những hình thức phong phú, sinh động. Sau đó, những đơn vị trường được lựa chọn tham gia dự án tuyển chọn một số học sinh có năng khiếu tham gia một khóa đào tạo ngắn ngày, chủ yếu tập biểu diễn một số trích đoạn chọn lọc.

          Mong muốn, mục đích của những người làm chương trình là thông qua các chương trình đào tạo, sẽ góp phần mở rộng biên độ hiểu biết về nghệ thuật truyền thống trong các em học sinh, từ đó khơi dậy tình yêu đối với nghệ thuật truyền thống, và đó sẽ là lớp khán giả tiềm năng của sân khấu dân tộc.

          Theo con số thống kê của Cục Nghệ thuật biểu diễn, đã có hơn 1.000 em học sinh của 55 trường THCS và THPT thuộc 18 tỉnh, thành phố trong cả nước được tiếp cận tinh hoa nghệ thuật truyền thống của dân tộc bằng hình thức này. Các em đã có thể biểu diễn khá nhuần nhuyễn một số trích đoạn tiêu biểu của sân khấu truyền thống như Xã trưởng - Mẹ Ðốp, Thị Mầu lên chùa, Hồ Nguyệt cô hóa cáo, Vinh quy bái tổ...

          Ở một số địa phương, các nhóm biểu diễn của các em đã được mời đi biểu diễn trong các chương trình văn nghệ, được mời biểu diễn trên đài phát thanh và truyền hình địa phương và một số em sau khóa học đã đăng ký thi vào các trường nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng có những đánh giá cho rằng, chương trình cũng có những bất cập nhất định trong phương thức tiến hành. Dự án Sân khấu học đường đặt mục tiêu lâu dài, nhưng cách thức tiến hành lại chưa được chuẩn bị chu đáo. Việc lựa chọn các kịch bản, lời thoại còn chưa xét đến yếu tố phù hợp tuổi học sinh, thời gian tập luyện quá ngắn không thể giúp các em đạt đến trình độ biểu diễn tốt. Khi đem nhân rộng ra cộng đồng, vô tình, sự thiếu nhuần nhuyễn đó sẽ đem đến một cách nhìn không chính xác về nét tinh hoa của nghệ thuật dân tộc… Sẽ hiệu quả hơn, nếu tăng cường thời gian giao lưu và giới thiệu sự đặc sắc của loại hình một cách bài bản, có hệ thống. Trong khi, phổ biến hiện nay ở các địa phương là mời các nghệ sĩ của các đoàn nghệ thuật, chuyên nghiệp của địa phương và tùy theo khả năng nhận thức của từng người, các nghệ sĩ giới thiệu nghệ thuật đến công chúng.

          Một trong những vấn đề rất nhiều người quan tâm khi thẩm định hiệu quả của dự án, là khả năng tiếp nối và nhân rộng của mô hình. Trong tình hình hiện nay, con số thực là rất nhỏ. Hầu hết các trường, khi lứa học sinh được đào tạo ra trường thì các đạo cụ được trang bị cũng... xếp kho. Các lớp học sinh đàn em không hề nhận được chút kiến thức nào do các anh các chị truyền lại. Và chính các lớp học sinh vừa qua đào tạo nghệ thuật, cũng ít có cơ hội "khoe" những điều mà mình đã khổ công luyện tập mới có được. Hiếm có địa phương nào lại quan tâm để mở ra các cuộc thi cho các em có điều kiện thể hiện khả năng, nơi nào ưu ái lắm thì mời đi biểu diễn dăm ba buổi tại một số cuộc họp đoàn thể, hoặc hoạt động chào mừng ngày lễ lớn... rồi thôi. Thời gian biểu của những học sinh ngày nay đã quá khít khao, nên cũng không mấy người mặn mà với các khóa đào tạo nghệ thuật, nhất lại là nghệ thuật truyền thống. Thế nên, có tình trạng có địa phương được nhận kinh phí của dự án, mãi mới khởi động được chương trình, nhưng khởi động xong rồi lại để đấy, hết thời hạn cũng không tổ chức nghiệm thu, và lặng lẽ rút lui khỏi chương trình.

          Còn rất nhiều vấn đề mà những hoạt động thực tế đã làm nảy sinh bất cập trong phương pháp tiến hành dự án Sân khấu học đường. Nhưng có lẽ cũng không nên quá tập trung để giải quyết từng câu hỏi đặt ra từ thực tế, mà nên nhìn một cách dài hơi" hơn, xây dựng một chương trình hành động bài bản, quy mô, như sáng tạo những trích đoạn mang đậm bản sắc nghệ thuật truyền thống, nhưng phù hợp với lứa tuổi của đối tượng tiếp nhận; hệ thống hóa và tiêu chuẩn hóa các chương trình giới thiệu tinh hoa nghệ thuật truyền thống, mời các chuyên gia sân khấu tham gia giảng dạy; và khởi động những cuộc thi quy mô lớn về nghệ thuật truyền thống...

2.2. Thực trạng công tác xã hội hóa công tác phát triển nhân lực ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch   

Chiến lược phát triển văn hóa, thể thao và du lịch đến 2010 và đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo. Trong các Chiến lược này, vấn đề xã hội hóa văn hóa, thể thao và du lịch, xã hội hóa đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch đã được xác định trong những lĩnh vực cụ thể:

- Về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch: Nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành văn hóa, thể thao và du lịch với cơ cấu nhân lực phù hợp. Thực hiện phương châm Nhà nước, doanh nghiệp cùng tham gia với các cơ sở đào tạo đào tạo phát triển nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch. Thí điểm mô hình dạy nghề có sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước và từ doanh nghiệp. Coi trọng và tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch. Có chính sách đãi ngộ hợp lý để thu hút nhân tài, chuyên gia, nghệ nhân tham gia vào việc phát triển văn hóa, thể thao và du lịch của đất nước.

Các văn bản pháp luật về giáo dục và đào tạo tác động đến văn hóa, thể thao và du lịch chủ yếu ở khía cạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch. Giáo dục là một trong những ngành mà chủ trương xã hội hóa được triển khai đầu tiên, thể hiện tập trung trong Nghị quyết số 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và văn hóa và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Theo các văn bản này, xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế và thể thao: bao gồm việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao ở mỗi địa phương; mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội.

         Trong bối cảnh xu hướng chung hiện nay, đào tạo phát triển nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch cũng có những xu hướng xã hội hóa và cũng cần thiết được xã hội hóa để đảm bảo cao hơn chất lượng và hiệu quả của hoạt động này.

         Như ở mục 1 đã đề cập, có thể hiểu xã hội hóa đào tạo nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch và phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội trong sự nghiệp đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ cộng đồng, tạo điều kiện cho các hoạt động đào tạo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt.

         Thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch gồm một số nội dung:

         - Tạo ra phong trào học tập nâng cao kiến thức văn hóa, thể thao và du lịch trong toàn xã hội theo nhiều hình thức khác nhau (chính quy, tại chức, tự học, dân lập, quốc lập…), đưa các kiến thức văn hóa, thể thao và du lịch lồng ghép trong các chương trình nội dung học tập ở các cấp giáo dục.

         - Nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư đối với đối với văn hóa, thể thao và du lịch và đào tạo kiến thức văn hóa, thể thao và du lịch (có thể qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo tự đọc…), tạo môi trường giáo dục lành mạnh.

         - Tăng cường hiệu quả của hệ thống, mạng lưới giáo dục đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch để đáp ứng tốt các mục tiêu đào tạo đặt ra.

         Hiện nay cả nước có hàng trăm cơ sở đào tạo nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch ở các cấp khác nhau từ trung học nghiệp vụ, trung cấp, cao đẳng có chuyên ngành văn hóa, thể thao và du lịch cho đến các trường đại học với các khoa chuyên ngành khác nhau. Nhiều trường là nòng cốt đào tạo nhân lực như Đại học Văn hóa, Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Mở, Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Cao đẳng Du lịch Huế, Cao đẳng Du lịch Vũng Tàu… với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật khá tốt, chất lượng giáo dục chuẩn đã phần nào đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực của xã hội. Tuy nhiên hầu hết các cơ sở đào tạo quy mô lớn, chất lượng cao hầu hết tập trung ở một số khu vực như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế - Đà Nẵng, tại các địa phương mới có một số các trường cao đẳng, trung cấp, sơ cấp…

Xu hướng phát triển kinh tế - xã hội hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho việc đào tạo nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch và phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch. Khó khăn lớn nhất đối với các cơ sở đào tạo theo hình thức dân lập là chất lượng đầu vào thấp của sinh viên. Điều này cho thấy một mặt, bản thân các cơ sở đào tạo này cần có những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút sinh viên. Mặt khác, cũng cần có những giải pháp mang tính xã hội để các cơ sở này phát huy được hiệu quả của việc thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo.

         Một thực tế hiện nay là nhu cầu của xã hội về đào tạo nghề nhất là trong lĩnh vực du lịch rất lớn, đang là xu hướng lựa chọn của đông thí sinh dự thi. Tuy nhiên hiện nay việc đào tạo ở các trường chủ yếu vẫn là những ngành nghề truyền thống như kế toán, lễ tân, lữ hành, hướng dẫn viên, bếp…, một số ngành nghề như buồng, bán hàng, quản lý khách sạn, điểm du lịch, nhà hàng… hiện đang có nhu cầu khá cao song lại chưa được triển khai đào tạo bài bản. Đa số các khách sạn, nhà hàng, các điểm du lịch hiện nay đang thiếu người có trình độ về nghiệp vụ quản lý, dẫn đến chất lượng dịch vụ quản lý ở đó chưa cao và không khai thác được tối đa tiềm năng du lịch.

         Trong một vài năm gần đây, các cơ sở đào tạo đã nhận được những sự hỗ trợ từ bên ngoài (từ các doanh nghiệp, các tổ chức…) dưới hình thức tài trợ các xuất học bổng cho học sinh giỏi,  hay ủng hộ về tài chính (14,3% các trường công lập được phỏng vấn có nhận được sự hỗ trợ này) hoặc ủng hộ nhân lực trong quá trình giảng dạy (như hướng dẫn viên cho các khóa thực tập, trợ giảng…).

         Như vậy có thể thấy xu hướng phát triển nói chung và xu hướng xã hội hóa giáo dục đã tạo tiền đề cho xã hội hóa trong lĩnh vực đào tạo nhân lực cho ngành văn hóa, thể thao và du lịch, sự hình thành của các cơ sở đào tạo dân lập, bán công... là những dẫn chứng cụ thể cho nhận định này. Tuy nhiên sẽ là chưa đầy đủ nếu không đề cập đến một bộ phận lớn các doanh nghiệp (cả nhà nước cả tư nhân), các hộ,  cá thể kinh doanh du lịch tự đào tạo, nâng cao trình độ nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ.

3. Một số yêu cầu đặt ra trong xã hội hóa phát triển nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịchhóa

          -  Trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm tuyên truyền, quảng bá cung cấp thông tin về thực trạng nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch, nhu cầu nguồn nhân lực trong tương lai và các thông tin về đào tạo, phát triển nhân lực văn hóa thể thao và du lịch.

          - Khai thác và phát huy thế mạnh của khoa học và công nghệ, các phương tiện thông tin và truyền thông hiện đại, đặc biệt là internet, phát thanh, truyền hình để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng của công tác tuyên truyền, hướng nghiệp và tính lan tỏa nhanh trong cộng đồng.

          - Các hoạt động tuyên truyền, hướng nghiệp cần được thực hiện chủ động, tích cực và thường xuyên, đa dạng hóa hình thức tuyền truyền, lồng ghép trong các nhiệm vụ và quá trình giáo dục đào tạo.

          - Công tác tuyên truyền cần tập trung vào 3 đối tượng chính: cán bộ quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.

          + Đối với cán bộ quản lý nhà nước, tập trung tuyên truyền, đào tạo, tập huấn những kiến thức cơ bản và nâng cao về văn hóa, thể thao và du lịch và nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch; tuyển chọn và gửi đi học tập, bồi dưỡng trong nước để tạo lập nguồn nhân lực, đội ngũ chuyên gia nòng cốt về quản lý.

          + Đối với doanh nghiệp, sẽ tập trung tuyên truyền, đào tạo nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, thiết chế văn hóa, thể thao.

  + Đối với cộng đồng cần có những chiến dịch tuyên truyền và các hoạt động cụ thể, có giờ học hướng nghiệp hay lồng ghép trong các môn học ở các cấp học phổ thông để người dân biết được những yêu cầu nghề nghiệp, thực tế nhu cầu nghề nghiệp cũng như các cấp độ, nơi đào tạo chuyên môn đáp ứng tốt nhu cầu xã hội. Huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư, của các tổ chức xã hội, cá nhân trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện hoặc trực tiếp đầu tư, tham gia công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch và công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.  

Đề cao tính chủ động và trách nhiệm tham gia của các ngành, lĩnh vực liên quan trong việc phát triển nguồn nhân lực du lịch văn hóa, thể thao và du lịch và phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.

4. Giải phát tăng cường xã hội hóa công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch

4.1. Mục đích của giải pháp

Tăng cường xã hội hóa công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch cả về nhận thức và hành động; đẩy mạnh huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.

4.2. Nội dung của giải pháp

a) Nâng cao nhận thức về tăng cường xã hội hóa công tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch

Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt quan điểm xã hội hóa phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao, du lịch. Các cơ quan Nhà nước ở trung ương, chính quyền địa phương, các đơn vị sự nghiệp, các hội nghề nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch và các thiết chế văn hóa, thể thao khác là những cơ sở sử dụng nhân lực được đào tạo và bản thân người học cũng được thụ hưởng lợi ích cần chủ động tích cực tham gia vào quá trình đào tạo bằng việc tự đào tạo và đóng góp kinh phí cho quá trình đào tạo trong mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.

b) Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nước

1) Đối với Nhà nước

- Tăng đầu tư cho phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao, du lịch cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội theo các chương trình mục tiêu và dự án cụ thể nhằm hỗ trợ, khuyến khích tài năng, hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội, phát triển nhân lực dân tộc thiếu số, vùng sâu, vùng xa, đối tượng chính sách.

- Nhà nước đầu tư đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện nhân lực năng khiếu, đặc thù và tài năng; huy động đóng góp của các thành phần trong xã hội cho phát triển nhóm nhân lực còn lại theo nhu cầu xã hội thông quan nâng cao năng lực của mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.

     - Hỗ trợ ngân sách Nhà nước cho cơ sở đào tạo, người lao động tham gia đào tạo và cơ sở sử dụng lao động không phân biệt công lập hay ngoài công lập.

2) Đối với doanh nghiệp (cả đơn vị sự nghiệp, các thiết chế văn hóa, thể thao có thu)

Có cơ chế để khuyến khích doanh nghiệp tăng cường đầu tư kinh phí cho việc xây dựng, phát triển cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để trực tiếp đào tạo nhân lực các cấp trình độ, cơ cấu ngành nghề phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp và đóng góp kinh phí cho phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch. Ưu tiên đặt hàng đào tạo theo các chương trình, dự án đào tạo có mục tiêu đối với các cơ sở đào tạo của doanh nghiệp có uy tín và trình độ cao.

3) Đối với tổ chức, cá nhân trong xã hội

Khuyến khích tất cả công dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng dân cư huy động và đóng góp tài lực, vật lực cho phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch dưới hình thức thành lập các loại quỹ khuyến học, quỹ học bổng, quỹ phát triển tài năng, đóng góp từ thiện... cho các cơ sở đào tạo và những người được đào tạo.

Khuyến khích mở rộng các hình thức tín dụng liên kết giữa cơ sở đào tạo, ngân hàng, tổ chức tín dụng, cơ sở sử dụng nhân lực và người học để tạo kinh phí cho cơ sở đào tạo và người học. Miễn, giảm thuế thu nhập đối với nhân lực tài năng là người Việt Nam và người nước ngoài tham gia phát triển nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch. Hội nghề nghiệp, câu lạc bộ có trách nhiệm cụ thể hóa, tham gia, vận động hội viên thực hiện.

c) Chủ động đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hội nhập

1) Cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư, trong đó đặc biệt chú ý đưa nội dung hợp tác quốc tế về phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao, du lịch trong các hiệp định hợp tác song phương và đa phương, để thu hút các nguồn ODA và FDI cho phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao, du lịch.

2) Xác định chiến lược, phương hướng và tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy, mở rộng, đa dạng hóa các mối quan hệ song phương và đa phương cấp Chính phủ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và nhân dân trong hợp tác phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao, du lịch. 

3) Có chính sách thu hút kinh nghiệm, công nghệ quốc tế, chuyên gia giỏi là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch.

4) Đẩy mạnh hoạt động của các trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, đại diện du lịch Việt Nam ở ngoài nước; xây dựng và triển khai các kênh thông tin, các chương trình giới thiệu, tuyên truyền cung cấp thông tin về mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao và du lịch một cách đầy đủ, chính xác cho kiều bào, các đối tác quốc tế, nhất là các tổ chức liên quan trực tiếp đến văn hóa, thể thao, du lịch. Tranh thủ hỗ trợ của các nước sở tại cho phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo văn hóa, thể thao, du lịch./.

                                                                                                                                    TS. Nguyễn Văn Lưu