Hợp tác đào tạo

Suy nghĩ về xây dựng chiến lược xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch trong giai đoạn hiện nay

04 Tháng Mười Hai 2018          2904 lượt xem

1. Đặt vấn đề

Du lịch Việt Nam đang phát triển với tốc độ cao, mang lại nguồn thu đáng kể cho đất nước. Trong tổ chức hoạt động du lịch quốc tế thu ngoại tệ, nhiều vật tư, hàng hoá và dịch vụ được sử dụng để đáp ứng nhu cầu đa dạng trong suốt chuyến đi của khách quốc tế vào Việt Nam du lịch. Thực chất đây là hoạt động xuất khẩu, nhưng là xuất khẩu tại chỗ vì hàng hoá và dịch vụ không phải vượt qua biên giới quốc gia. Nhưng loại hình xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch chưa được đánh giá đúng và chưa được hiểu đầy đủ.

Trong bối cảnh xuất khẩu theo hình thái thông thường của Việt Nam đã có những lúc biểu hiện xu hướng sụt giảm do nhiều nguyên nhân, thì xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch càng có ý nghĩa quan trọng. Nhưng hiểu thế nào cho đầy đủ nội hàm của xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch đang còn là một vấn đề tranh cãi, chưa thống nhất dẫn đến nhận thức về xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch chưa đầy đủ và do đó chưa được chú trọng đầu tư đúng mức. Đến nay, ở Việt Nam, ngoài những nghiên cứu về xuất khẩu theo hình thái thông thường, chủ yếu tập trung vào vấn đề lý luận về xuất khẩu hàng hoá, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu xuất khẩu dịch vụ và rất ít công trình nghiên cứu lý luận về xuất khẩu tại chỗ thông qua hoạt động du lịch. Tình trạng này dẫn đến việc nhìn nhận, đánh giá về loại hình xuất khẩu tại chỗ thông qua hoạt động du lịch phiến diện và do đó chưa phát huy đúng mức thế mạnh này của ngành Du lịch. 

Vì vậy, việc xây dựng Chiến lược xuất khẩu dịch vụ đến năm 2030 (cụ thể là dịch vụ du lịch) là vấn đề cần được nghiên cứu nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn hiện nay.

2. Nhận thức về xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch ở Việt Nam

Việc hiểu đúng được bản chất của hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển xuất khẩu tại chỗ trong du lịch, đặc biệt là đối với những cán bộ quản lý nhà nước về du lịch. Trên cơ sở nhận thức được nội dung và ý nghĩa của xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, mới có những định hướng chiến lược, chủ trương đầu tư, chính sách tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch. 

Về mặt xã hội, ngoài lợi ích tạo việc làm, xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch còn đóng góp vào một số lĩnh vực như: Xã hội hoá phát triển du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường liên kết đa ngành, đa quốc gia của nền kinh tế; thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, ngoại giao phát triển; bảo tồn và phát huy các giá trị thiên nhiên, lịch sử, nhân văn của đất nước, của vùng, của địa phương. Đặc biệt là các lễ hội truyền thống, nghề thủ công, nghệ thuật ẩm thực. Thông qua xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, hình ảnh về đất nước con người Việt Nam được quảng bá rộng rãi, nâng cao sự hiểu biết của các dân tộc, góp phần học tập kinh nghiệm quản lý, kinh doanh dịch vụ du lịch.

Hoạt động du lịch nói chung và hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch đã mang lại nguồn thu nhập kinh tế lớn, tạo việc làm cho xã hội, góp phần bảo đảm an sinh xã hội giữ vững an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch so với định hướng chiến lược và tiềm năng của đất nước còn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định, chưa có bước phát triển đột phá và khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của đất nước để hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch phát triển mạnh như mong muốn.

3. Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch - một bộ phận quan trọng của xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

Ngày nay, du lịch được coi là một trong những ngành dịch vụ lớn nhất thế giới và tăng trưởng nhanh nhất. Phát triển du lịch có mối quan hệ tương tác đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Nhiều nước, trong đó có Việt Nam xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Hiện ngành Du lịch chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới về dịch vụ.

Nhìn chung, các nước xuất khẩu dịch vụ lớn nhất, trong đó có xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, là những nước công nghiệp phát triển. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), hiện nay một số quốc gia có ngành Du lịch phát triển cao trên thế giới có thu nhập từ du lịch và các dịch vụ có liên quan đến du lịch chiếm từ 60 - 70% tổng sản phẩm quốc nội. Tại nhiều nước, du lịch đã, đang và sẽ trở thành một ngành kinh tế mạnh, ngành kinh tế quan trọng, ngành kinh tế động lực, ngành kinh tế mũi nhọn.

Tuy nhiên, du lịch cũng rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển. Đối với những nước này, du lịch là ngành kinh tế thu ngoại tệ và tạo công ăn việc làm. Trong thời đại ngày nay, các quốc gia đang phát triển có nhiều cơ hội để tăng tốc ngành Du lịch non trẻ của mình. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Việt Nam đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Nhằm thúc đẩy du lịch phát triển, tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách quốc gia, đạt mục đích nhiều mặt, cần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch.

4. Vai trò của xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch

Để cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch phải đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Các doanh nghiệp buộc phải cải tiến quy trình sản xuất và cung cấp sản phẩm, đổi mới phong cách phục vụ, nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế chung. Chất lượng của các hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch quốc tế được cải thiện sẽ thúc đẩy việc cạnh tranh của các hàng hoá trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ.

Một trong những vai trò quan trọng của xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch ngoài việc tạo ra nguồn thu ngoại tệ còn là sự cần thiết cho sự xuất khẩu nói chung và mở rộng mạng lưới khách hàng dựa trên sự phát triển các dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Các nhà xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch còn tạo ra công ăn việc làm và có thể đẩy lùi được hiện tượng “chảy máu chất xám” nguồn nhân lực ở các lĩnh vực trong ngành Du lịch và các ngành liên quan đến du lịch. Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch có thể khuyến khích sự phát triển thu nhập, việc làm, thu ngoại tệ, thuế và các khía cạnh khác.

a) Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm: Hiện nay, nhiều điểm du lịch mới, đặc biệt tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Phi, đang hấp dẫn du khách có thu nhập cao và bán được nhiều hàng hoá và dịch vụ có giá trị cao. Khách du lịch thường chi tiêu nhiều khi du lịch đến các nước này, do đây là những miền đất lạ,sức hấp dẫn cao. Chính vì vậy, xuất khẩu tại chỗ đã mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm vì du khách du đến từ nhiều quốc gia khác nhau.

Do đặc thù hoạt động của mình, du lịch quốc tế được coi là ngành “xuất khẩu tại chỗ”, “xuất khẩu vô hình”, có lợi thế hơn so với xuất khẩu thông thường. “Xuất khẩu” qua du lịch gồm dịch vụ, hàng ăn uống, hoa quả, rau xanh, hàng lưu niệm, hàng hoá tiêu dùng phục vụ cho chuyến du lịch... là những mặt hàng không thể hoặc rất khó xuất khẩu qua hình thức xuất khẩu thông thường.

Để phục vụ khách quốc tế, ngành Du lịch còn cần đến dịch vụ của các ngành khác như giao thông vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, y tế, thông tin, văn hoá..., hay nói cách khác, thông qua du lịch, các ngành này cũng xuất khẩu tại chỗ được sản phẩm của mình. Bên cạnh đó, trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật du lịch cũng là xuất khẩu gián tiếp nguyên vật liệu (sắt, thép, xi măng, cát, gạch, sỏi đá, cây cảnh...) và sức lao động. Như vậy, phát triển du lịch quốc tế nói riêng và du lịch nói chung sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhiều ngành kinh tế, văn hoá, xã hội.

Để mở rộng thị trường tiêu thụ, thu hút khách du lịch, tăng xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá sự hấp dẫn của đất nước. Sự hấp dẫn đó, ngoài cảnh quan, con người, các di tích văn hoá, lịch sử… còn là những vấn đề liên quan đến giá cả, tỷ giá đồng tiền của quốc gia đó so với các loại ngoại tệ. Nếu các mặt hàng được sản xuất với chất lượng tốt, giá cả hợp lý, khách du lịch sẽ mua nhiều, thu được ngoại tệ nhiều hơn.

b) Đa dạng hoá các hoạt động xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ: Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch không những mang lại nguồn thu ngoại tệ mà còn đóng góp vào sự đa dạng hóa của các hoạt động xuất khẩu hàng hoá hữu hình và dịch vụ, hướng đến sự ổn định của các nguồn thu ngoại tệ. Sự khác biệt giữa tiêu dùng du lịch với tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù và không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá cả sản phẩm du lịch khác một cách giản đơn được.

Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, đa dạng hoá các hoạt động xuất khẩu hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành và có quan hệ với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế.

Khi một khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ tăng lên đáng kể (nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, xây dựng, giao thông vận tải, ngân hàng, bưu điện...). Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng đó của khách du lịch mà ngành kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình.

Thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, sự phát triển du lịch quốc tế vào, hay thường được gọi là du lịch quốc tế thu ngoại tệ (xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch) đồng thời sẽ làm biến đổi, chuyển dịch cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân. Hơn nữa, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn cũng là yêu cầu và động lực nâng cao chất lượng phát triển của các ngành kinh tế cung cấp vật tư, hàng hoá cho ngành Du lịch, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá các ngành liên quan.

c) Góp phần giữ ổn định hoạt động xuất khẩu: Do xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch được thực hiện ngay tại nước mà khách đến du lịch, do đó khối lượng hàng hoá, dịch vụ được xuất khẩu không phụ thuộc nhiều vào các chính sách nhập khẩu của các nước gửi khách. Ngoài ra, nhiều sản phẩm khó xuất khẩu theo hình thái thông thường lại dễ dàng xuất khẩu tại chỗ thông qua hoạt động du lịch. Nhờ mở rộng thị trường thông qua xuất khẩu tại chỗ dựa trên sự phát triển loại du lịch quốc tế, các doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch có thể giảm thiểu rủi ro, giữ được sự bình ổn tương đối trước biến động thị trường, bởi chu kỳ kinh doanh du lịch ở các nước không giống nhau, bởi khác biệt thời vụ trong du lịch. Vì vậy có thể nói rằng xuất khẩu tại chỗ qua du lịch góp phần giữ được ổn định hoạt động xuất khẩu nói chung.

d) Tránh các rào cản kỹ thuật, không lệ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu thông thường: Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch của nước ta nhằm vào những thị trường du lịch quốc tế trọng điểm như Trung Quốc, ASEAN, Đài Loan, Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Đức, Hoa Kỳ. Những nơi này cũng chính là thị trường xuất khẩu hàng thuỷ sản, gạo, các hàng nông sản, giày dép, may mặc... Nếu xuất khẩu những hàng hoá này thông qua du lịch quốc tế thì có thể vượt qua được những rào cản thuế quan và rào cản kỹ thuật rất nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu (các nước gửi khách du lịch đến Việt Nam). Ví dụ việc cung lương thực, thực phẩm phục vụ cho các bữa ăn của du khách quốc tế không bị rảo cản kỹ thuật cấm hoặc hạn chế nhập khẩu trực tiếp của nước gửi khách. Xuất khẩu qua du lịch những mặt hàng nêu trên chi phí giao dịch, bảo quản, đóng gói, bảo hiểm, vận chuyển... lại thấp.

Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch có thể tránh được các quy định ảnh hưởng đến sự cạnh tranh ngay chính trong nội địa của nước đón khách: Sự quan liêu và các thủ tục hành chính không hiệu quả; các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền; các quy định về hình thái kinh doanh (hợp tác xã, doanh nghiệp); các chính sách thanh toán của các nhà cung cấp dịch vụ nội địa; chính sách khuyến khích các cơ quan chính phủ trao đổi các dịch vụ cung cấp từ các cơ quan chính phủ khác; các chính sách ưu tiên việc trúng thầu…

e) Nâng cao năng lực, chất lượng và khả năng của các dịch vụ trong nước: Bản thân việc xuất khẩu tại chỗ đều phải sử dụng các dịch vụ kinh doanh và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác. Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch quốc tế cũng vậy. Vì vậy chất lượng và giá trị của một dịch vụ kinh doanh tại chỗ sẽ có tác động trở lại đối với chất lượng và giá trị của tất cả dịch vụ khác liên quan. Các dịch vụ chất lượng cao được thể hiện qua các tiêu chí: Chất lượng kỹ thuật tuyệt hảo; cung cấp đúng thời gian; không có lỗi; giá cả phải chăng sẽ làm khách du lịch quốc tế ưa thích. Chất lượng của các sản phẩm du lịch được khách du lịch quốc tế thẩm định, đánh giá. Vì vậy trong quá trình phát triển xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch quốc tế cần quan tâm đến nhân tố này.

Thúc đẩy việc nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch cũng là một cách tăng cường tỷ trọng giữa chất lượng và giá cả. Các nhà cung cấp dịch vụ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch phải đảm bảo chất lượng của tất cả các dịch vụ và sản phẩm du lịch (gồm dịch vụ tư vấn, các dịch vụ như làm visa nếu chưa được miền visa, phục vụ đi lại, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ, các dịch vụ cá nhân...). Các chính sách, quy định và giải pháp thúc đẩy nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch cần được thực hiện thông qua sự hợp tác chặt chẽ, thường xuyên và liên tục giữa khu vực tư nhân (hiểu theo nghĩa là doanh nghiệp và các hộ tư nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch) và Nhà nước. Cải tiến đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch được xác định là một nguồn lực của sự tăng trưởng đối với ngành Du lịch tại các quốc gia đang phát triển, thúc đẩy cơ hội đạt những thành tựu về kinh tế và phát triển bền vững môi trường tự nhiên và xã hội.

Tóm lại, sự phát triển xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng là điều rất rõ. Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch đã và đang góp phần tích cực đến các khâu của quá trình tái sản xuất, tăng thu nhập, đóng góp vào GDP, lan toả, lôi kéo các ngành khác phát triển, tạo công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá...

5. Hiệu quả kinh tế - xã hội của xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch

5.1. Hiệu quả kinh tế:

Du lịch ngày càng trở thành một trong những công cụ hữu hiệu, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu tại chỗ, góp phần đáng kể vào thu nhập nền kinh tế quốc dân. Khi đánh giá ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch nói chung và xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch nói riêng, nếu chỉ nhìn nhận hoạt động du lịch ở góc độ hẹp thì chỉ thấy hiện tượng diễn ra giữa mối quan hệ đơn thuần của một bên cung cấp một số loại hình dịch vụ như vui chơi, giải trí,... nhằm đáp ứng nhu cầu, mong muốn của người mua dịch vụ và bên kia là người sử dụng, tiêu dùng dịch vụ nhằm tiêu khiển, thoả mãn những nhu cầu riêng trong thời gian nhàn rỗi của mình; thì sẽ chưa thấy hết được những hiệu quả, ý nghĩa thiết thực của hoạt động du lịch đem lại đối với đời sống kinh tế - xã hội.

Đồng thời, cũng như bất kỳ ngành, lĩnh vực kinh tế nào khác, để có thể đánh giá hiệu quả, tác động của chúng đối với nền kinh tế nói chung, bên cạnh những yếu tố, tiêu chí cơ bản như mức độ, tỉ lệ đóng góp trong thu nhập quốc dân, hiệu suất sử dụng các nguồn lực, tiềm năng, triển vọng tăng trưởng, tính bền vững... thì những yếu tố liên quan về mặt xã hội, môi trường cũng cần phải tính đến. Trên thực tế nếu đem so sánh với một số ngành kinh tế khác, có thể khẳng định, du lịch không những hội tụ đầy đủ các tiêu chí trên mà còn chứa đựng nhiều yếu tố thiết yếu khác có ý nghĩa sâu rộng hơn về nhiều mặt. Nhìn ở khía cạnh kinh tế, thì đặc điểm này được biểu hiện rõ nét hơn bao giờ hết và chính những hoạt động trao đổi trong mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ như mô tả trên thực chất là sự hoán vị những giá trị đạt được trong quá trình lao động, được biểu hiện dưới nhiều dạng và hình thức khác nhau kể cả về vật chất cũng như tinh thần. Như vậy, khi đi sâu vào bản chất sự việc, có thể thấy một trong những nhân tố cốt lõi, phản ảnh rõ nét nhất về ý nghĩa quan trọng của du lịch đó là “đặc tính xuất khẩu tại chỗ” của hoạt động du lịch.

Cũng như các ngành xuất khẩu khác, hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch quốc tế mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng. Nguồn thu ngoại tệ này chính là thu nhập từ hoạt động du lịch quốc tế. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), xuất khẩu tại chỗ qua du lịch chiếm tỷ lệ cao nhất trong các ngành hàng xuất khẩu trực tiếp, cao hơn cả xuất khẩu ô tô, máy tính và thiết bị văn phòng, hàng dệt may. Hơn nữa, nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch đạt hiệu quả hơn so với những ngành xuất khẩu thông thường. Đối với xuất khẩu tại chỗ qua du lịch, khách du lịch quốc tế sẽ đến và tiêu thụ các dịch vụ, hàng hoá liên quan (sản phẩm du lịch) tại nơi sản xuất ra chúng. Như vậy thông qua chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại các điểm du lịch, các hàng hoá, dịch vụ được xuất khẩu cùng với quá trình tổ chức tiêu dùng cho chuyến du lịch du khách. Nhờ vậy các nhà xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch các dịch vụ, hàng hoá liên quan tiết kiệm được rất nhiều chi phí như đóng gói, lưu kho, chi phí làm các thủ tục xuất khẩu liên quan, vận chuyển cả nội địa và quốc tế so với xuất khẩu hàng hoá thông thường...

Xuất khẩu tại chỗ qua du lịch còn đóng vai trò quan trọng góp phần cân bằng cán cân thương mại trên thế giới, đặc biệt giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Giá trị nhập khẩu của các nước đang phát triển thường lớn hơn giá trị xuất khẩu rất nhiều, thường được gọi là nhập siêu, dẫn đến tình trạng các nước đang phát triển luôn bị thâm hụt cán cân thanh toán. Điều này là do các nước đang phát triển chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm sơ chế, nguyên nhiên vật liệu hoặc làm gia công, tạm nhập, tái xuất, trong khi đó phải nhập các mặt hàng máy móc thiết bị, vật tư, công nghệ cao, có giá trị lớn hơn rất nhiều so với mặt hàng xuất khẩu. Với việc tiếp nhận luồng khách du lịch quốc tế và ngoại tệ ngày càng tăng nhờ chi tiêu của khách du lịch đến từ các nước phát triển, du lịch là một trong số ít ngành mà các nước đang phát triển luôn đạt được mức thặng dư trong thương mại dịch vụ quốc tế với các nước phát triển.

Thu nhập từ xuất khẩu tại chỗ qua du lịch không chỉ là nguồn thu bổ sung cho kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của quốc gia mà còn đóng góp vào việc đa dạng hoá hoạt động xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, ổn định nguồn thu ngoại tệ của đất nước. Nói cách khác, xuất khẩu tại chỗ qua du lịch quốc tế có thể được coi là một phương thuốc chữa trị căn bệnh bất ổn, thiếu bền vững của hoạt động xuất khẩu thông thường ở các nước đang phát triển, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu khoá ngày một tăng. Khi mà những nước này chủ yếu xuất khẩu hàng nông sản sơ chế, các nguyên liệu, bị phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố ngoại vi như thời tiết, thiên tai, biến động bất thường của nhu cầu và thị trường tiêu thụ đang ngày càng bị thu hẹp do nhiều nước tham gia khai thác cùng một thị trường mục tiêu, giá luôn có xu hướng giảm, cạnh tranh ngày một khốc liệt hơn...

Trong quá trình phát triển và chuyển đổi nền kinh tế, nhiều nước đang phát triển rất coi trọng du lịch, coi du lịch là một ngành kinh tế quan trọng, kinh tế mũi nhọn, một động lực phát triển kinh tế. Hoạt động xuất khẩu tại chỗ qua du lịch quốc tế đóng góp cho sự phát triển về thu nhập, tạo việc làm, nguồn thu ngoại tệ, thu thuế... Xuất khẩu tại chỗ qua du lịch tạo ra các tác động nhân cấp và tác động tích cực lên toàn bộ nền kinh tế nhanh hơn các ngành khác.

Bên cạnh lợi ích kinh tế rất lớn từ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch mang lại cũng cần nhìn nhận những mặt không thuận mà xuất khẩu khẩu tại chỗ thông qua du lịch “mang đi”. Những lợi ích từ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch phần nào đó có thể bị mất đi bởi “sự dò rỉ”. Đó là do số ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch phải dùng để nhập nguyên liệu, máy móc xây dựng và các loại hàng hoá tiêu dùng như đồ ăn, đồ uống; hoạt động chuyển thu nhập, lợi nhuận của lao động nước ngoài trong ngành, chi trả lãi cho các khoản vay nước ngoài, chi cho xúc tiến du lịch ở nước ngoài...

Đóng góp kinh tế của xuất khẩu tại chỗ qua du lịch không chỉ đơn thuần là nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu sản phẩm du lịch (hàng hoá và dịch vụ phục vụ du lịch). Sự phát triển du lịch, sự mở rộng hoạt động xuất khẩu qua du lịch luôn gắn liền với sự phát triển của một số ngành khác. Xuất khẩu tại chỗ qua du lịch tạo ra tác động nhân cấp, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành sản xuất dịch vụ liên quan. Tác động này có thể là trực tiếp và gián tiếp.

Tiêu dùng của khách quốc tế khuyến khích luồng thu nhập nội địa qua một số kênh. Nó tạo ra thu nhập thêm ở mỗi lần tiêu dùng và tạo nên một tác động nhân cấp. Tiêu dùng của du khách quốc tế chỉ phán ánh giai đoạn đầu của tác động kinh tế lên cộng đồng sở tại nơi khách quốc tế đến giống như các ngành tạo ra thu nhập cơ bản khác. Nhưng đóng góp của xuất khẩu tại chỗ qua du lịch có đặc điểm khác là thu nhập cơ bản sẽ được nhân lên khi thu nhập thêm được chuyển cho các thành phần khác trong nền kinh tế. Ví dụ, thu nhập của khách sạn từ một du khách quốc tế thể hiện việc “bơm trực tiếp” tiêu dùng của du khách quốc tế vào cộng đồng sở tại. Một phần của thu nhập này được trả cho nhân viên khách sạn, là những người dân địa phương và những người cung cấp dịch vụ, hàng hoá cho khách sạn được gọi là thu nhập “gián tiếp”. Những người này sẽ dùng thu nhập đó để tiến hành mua bán trao đổi và cuối cùng nó trở thành thu nhập “được chuyển” của toàn cộng đồng địa phương nơi khách đến.

Ở mỗi giai đoạn chuyển đổi thu nhập từ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, một phần tiền sẽ được lưu thông trong nền kinh tế quốc dân và quốc tế. Ví dụ các khách sạn chỉ có thể chuyển một phần ngoại tệ thu được ban đầu từ du khách quốc tế tới cộng đồng dân cư vì họ phải dùng một phần thu nhập này để mua các yếu tố đầu vào và các chi phí phục vụ hoạt động của mình như đóng thuế, trả lệ phí giấy phép kinh doanh. Giống như vậy, dân cư, người bán buôn, bán lẻ để thực hiện hoạt động kinh doanh phục vụ khách du lịch quốc tế cũng phải chi trả các khoản thuế, giấy phép. Chi phí của du khách quốc tế ở khách sạn có thể chuyển thành thu nhập của cộng đồng địa phương và trong quá trình hoạt động tiêu dùng, dần dần các luồng này sẽ biến mất.

Như vậy dân cư gần các khu du lịch sẽ được hưởng lợi từ các hoạt động xuất khẩu tại chỗ qua du lịch. Cuộc sống của họ sẽ được cải thiệu cùng với sự mở rộng phát triển của các hoạt động xuất khẩu tại chỗ qua du lịch. Có thể nói có rất ít các hoạt động có thể đảm bảo quá trình chuyển đổi thu nhập rộng rãi và nhanh như hoạt động xuất khẩu tại chỗ qua du lịch.

Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch là xuất khẩu các dịch vụ, hàng hoá với những đặc thù rất riêng. Những dịch vụ trao cho khách là dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu cao, cho nhiều loại khách hàng, trong đó hàm chứa tỷ lệ phi vật thể lớn hơn. Hơn nữa dịch vụ du lịch chỉ có thể cung cấp tiêu thụ cho khách tại nơi sản xuất, cung ứng dịch vụ. Vì vậy để tạo ra sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao cần có những đầu tư ban đầu rất lớn cho cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật. Thực tế đã chứng minh du lịch là ngành đòi hỏi nhiều vốn và đòi hỏi đầu tư lớn. Đầu tư không chỉ cho hạ tầng cơ sở bao gồm đường sá, công trình công cộng, các phương tiện truyền thông hoặc cơ sở hạ tầng đặc biệt, giành riêng hoặc chủ yếu phục vụ cho du lịch... mà cả đầu tư cho các cơ sở vật chất cho các khách sạn để có thể đạt được các tiêu chuẩn quốc tế về tính tiện nghi, vệ sinh và thẩm mỹ cao.

Với việc đầu tư lớn cho phát triển, du lịch trở thành ngành tiêu thụ lớn đầu ra của các ngành sản xuất khác. Sự mở rộng, phát triển xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch sẽ kéo theo sự đầu tư phát triển của rất nhiều ngành sản xuất liên quan như nguyên nhiên vật liệu, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Trên cơ sở đó tạo nhiều cơ hội kinh doanh không chỉ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà cũng không kém phần quan trọng đối với các tập đoàn kinh tế lớn.

Hiện nay với sự phát triển của hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, các nước đã và đang thực hiện nhiều biện pháp trực tiếp đầu tư hoặc thu hút đầu tư từ các nguồn khác như đầu tư từ thành phần tư nhân, đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Có thể coi việc khuyến khích các tập đoàn, các nhà đầu tư lớn đầu tư xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật, các khu du lịch ở các nước đang phát triển, là sự giúp đỡ các nước phát triển đối với các nước đang phát triển trong phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Mặc khác việc đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất du lịch không chỉ đơn thuần phục vụ khách du lịch mà còn phục vụ người dân địa phương, các ngành kinh tế, xã hội liên quan.

Bên cạnh đó, xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch còn có những đóng góp to lớn khác đối với quá trình phát triển kinh tế của nhiều nước. Trước hết đối với một số quốc gia, xuất khẩu thông qua du lịch góp phần quan trọng trong quá trình tham gia vào thương mại thế giới, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu và toàn diện dần. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế; việc đẩy mạnh các hoạt động du lịch tạo điều kiện cho các nước đang phát triển đẩy mạnh quá trình tham gia thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế của mình. Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch thường là lĩnh vực đi đầu trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và hợp tác quốc tế của một quốc gia. 

Du lịch là ngành dịch vụ tương đối mở, vì vậy nhiều quốc gia, khu vực đã đưa du lịch là một trong những ngành ra đàm phán mở cửa thị trường, mở đường cho việc mở cửa thị trường các ngành dịch vụ khác. Điển hình là trong hợp tác dịch vụ ASEAN, du lịch được chọn là một trong 7 ngành dịch vụ đưa ra cho các vòng hợp tác dịch vụ đầu tiên. Sau 3 vòng đàm phán, các cơ quan du lịch quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đã thống nhất được những gói cam kết đối với các phân ngành dịch vụ và du lịch. Cam kết mở cửa thị trường du lịch được đánh giá là ngành dịch vụ đạt được tiến bộ nhất trong các vòng đàm phán dịch vụ ASEAN. Nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đã lựa chọn du lịch là một trong những ngành dịch vụ được đưa ra cho các cam kết ban đầu khi đàm phán tham gia hợp tác kinh tế quốc tế như quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

5.2. Hiệu quả văn hoá, xã hội và môi trường:

Xuất khẩu thông qua du lịch thực tế được thể hiện trên nhiều phương diện, từ nhiều góc độ khác nhau, nó bao trùm lên nhiều lĩnh vực, hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội. Hoạt động xuất khẩu thông qua du lịch không chỉ giới hạn trong phạm vi giải quyết mối quan hệ giữa cung cấp và sử dụng thuần tuý về các loại hình dịch vụ, để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của khách du lịch như đi lại, ăn nghỉ, vãn cảnh, tham quan,… mà trên thực tế nó còn kéo theo nhiều hoạt động liên quan khác như chi tiêu cho việc mua sắm hàng hoá, vật phẩm, đồ lưu niệm,.. trong chuyến đi du lịch.

Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu thông qua qua kênh du lịch cũng không chỉ dừng ở những hoạt động diễn ra mang tính hữu hình, mà còn biểu hiện thông qua nhiều hoạt động được gọi là “xuất khẩu vô hình”, nhưng chứa đựng ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đó là sự tiếp thụ, cảm nhận của khách quốc tế qua mỗi chuyến du lịch về truyền thống của nơi đón khách, lòng mến khách của cư dân bản địa, bản sắc văn hoá độc đáo của mỗi dân tộc, cộng đồng dân cư địa phương, sẽ là nhịp cầu nối hữu hiệu, góp phần quan trọng vào việc củng cố tình hữu nghị, tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế nhiều mặt và đặc biệt là thúc đẩy xuất khẩu, truyền bá giá trị, tư tưởng văn hoá của đất nước ra thế giới bên ngoài.

Ngoài ra còn có những loại hình du lịch khác như du lịch kết hợp tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh, hội nghị, hội thảo và thông qua những loại hình này có thể xuất những sản phẩm du lịch hữu hình để nhập những sản phẩm được ban đầu tạm coi là vô hình, nhưng sẽ mang lại giá trị, lợi ích vô cùng to lớn sau này như hợp tác đầu tư, đào tạo, chuyển giao công nghệ, tri thức khoa học tiến bộ của nhân loại,... Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch còn có đóng góp to lớn về văn hoá, xã hội, môi trường. Hoạt động xuất khẩu tại chỗ dịch vụ, hàng hoá liên quan du lịch gắn với việc khách du lịch quốc tế thực hiện chuyến du lịch của họ tới những miền đất lạ, sử dụng các dịch vụ, mua sắm hàng hoá, đồ lưu niệm...

Phát triển du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng, cũng tức là xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, phải dựa trên nền tảng văn hóa và vì mục tiêu văn hóa. Về phía mình, du lịch, xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch không phải chỉ thụ động “xây” trên nền tảng văn hóa mà xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch cũng tác động và góp phần bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa. Trong sự phát triển của lịch sử nhân loại, văn hoá xã hội của các vùng, miền, các dân tộc, các khu vực có sự giao lưu, thâm nhập, giao thoa với nhau.

Bên cạnh sự giao lưu ngày càng tăng giữa các nền văn hoá nhờ vào sự phát triển của giao thông, thông tin, công nghệ truyền thông, ngoại giao và thương mại, thì hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch thúc đẩy hoạt động giao lưu văn hoá một cách trực tiếp nhất và nhanh nhất. Bởi lẽ, một mặt nhu cầu du lịch quốc tế (du lịch ra nước ngoài) là sự mong muốn được thoả mãn sự tìm hiểu các nền văn hoá khác, thôi thúc con người du lịch ra ngoài nước để giao lưu; mặt khác du lịch là hoạt động thực tiễn của con người, theo nghĩa rộng, nó thuộc về phạm trù văn hoá, là một hoạt động văn hoá mang tính cao cấp, xuất hiện sau hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu sống thường nhật của con người.

Hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch góp phần giới thiệu, giá trị nền văn hoá độc đáo của Việt Nam mấy nghìn năm văn hiến thông qua xúc tiến du lịch, tổ chức tạo sản phẩm phục vụ khách du lịch quốc tế và tổ chức các chương trình du lịch đến nhiều điểm du lịch của đất nước. Bằng các ấn phẩm quảng bá, quảng cáo, vẻ đẹp về đất nước, con người Việt Nam sẽ được giới thiệu ở trong và ngoài nước. Du lịch quốc tế thu ngoại tệ (xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch) truyền tải các giá trị văn hoá của từng vùng, mỗi địa phương đến khách du lịch quốc tế. Mỗi người tiêu dùng sản phẩm xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch (khách du lịch quốc tế) có được trải nghiệm tốt trong chuyến đi du lịch đến một đất nước nào đó, được phục vụ tốt, được hài lòng sẽ trở thành “sứ giả” của các vùng đất mà họ đến. Họ sẽ tuyên truyền về sự tốt đẹp của đất nước, con người, vùng đất mà họ đến du lịch với người thân và bạn bè của họ. Hiệu ứng này của xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch không nên xem thường.

Trong quá trình hoạt động, ngành Du lịch, nhất là trong xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, phải làm cho sản phẩm, dịch vụ của mình chứa đựng ngày càng tăng hàm lượng văn hoá ngay từ xây dựng các công trình du lịch, tổ chức các dịch vụ khách sạn, hướng dẫn, giới thiệu tham quan, vui chơi giải trí và cả trong thái độ phục vụ khách... Không phải chỉ có ngành Du lịch giới thiệu văn hoá với khách, mà các ngành, địa phương và nhân dân nơi khách đến đều phải có trách nhiệm và truyền tải được giá trị độc đáo của bản sắc văn hóa đất nước và đặc trưng riêng có của văn hóa mỗi vùng, miền, dân tộc đến với khách du lịch quốc tế.

Trong chuyến du lịch, khách du lịch quốc tế thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá và tiếp xúc với dân cư địa phương. Thông qua giao tiếp đó, văn hoá của cả du khách và của cộng đồng dân cư nơi khách đến được trau dồi và nâng cao. Du lịch tạo khả năng cho con người mở mang, tăng cường sự hiểu biết về lịch sử truyền thống, văn hoá, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội... làm giàu thêm khả năng thẩm mỹ, tôi luyện tình cảm, thoải mái tinh thần khi được tham quan kho tàng văn hoá của nước ta, của từng vùng và của mỗi địa phương.

Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc. Thông qua chuyến du lịch mà khách quốc tế được làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử, văn hoá của dân tộc khác, họ chi tiền để mua sự trải nghiệm, tạo việc làm và thu nhập cho cư dân bản địa. Cộng đồng dân cư địa phương cũng thấy được sự hấp dẫn của văn hoá bản địa của mình, nhận thức ngày một sâu sắc việc bảo tồn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể địa phương mình, góp phần khai thác, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá dân tộc, bảo vệ và phát triển môi trường tự nhiên và xã hội.

Hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch (hoạt động du lịch quốc tế thu ngoại tệ) có vai trò quan trọng trong giáo dục tinh thần quốc tế, làm cho mọi người thấy cần thiết phải phát triển và củng cố các mối quan hệ quốc tế, làm cho các dân tộc gần gũi nhau hơn, góp phần bình thường hoá quan hệ, giữ gìn, củng cố hoà bình và tăng thêm tình hữu nghị giữa các dân tộc, tăng cường sự hợp tác, hội nhập trên mọi lĩnh vực vì lợi ích chung.

Giao lưu văn hoá trong du lịch cũng được hình thành và thúc đẩy thông qua “sản xuất” sản phẩm du lịch để xuất khẩu tại chỗ. Sự khai thác tài nguyên du lịch, xây dựng các công trình du lịch đã phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo của loài người. Trong quá trình toàn cầu hoá, một mặt phải giữ gìn bản sắc trong hoạt động du lịch để có cái riêng của mình, ngành Du lịch ở tất cả các nước đều phải tiếp thụ có chọn lọc kinh nghiệm phát triển du lịch và tinh hoa văn hoá thế giới trong hoạt động du lịch, từ  xây dựng đến vận hành các cơ sở kinh doanh du lịch đều có sự đan xen, quốc tế hoá và toàn cầu hoá cái đẹp, cái hay của các nền văn minh thế giới. 

Ngày nay, du lịch trở thành hiện tượng phổ biến trên thế giới, đã tạo ra dòng “dịch chuyển” của 2,6 tỉ lượt người đi du lịch qua biên giới các quốc gia. Chính dòng khách du lịch ấy đã thúc đẩy sự lưu chuyển của thông tin, tri thức, khoa học, công nghệ, vốn liếng về du lịch và liên quan với du lịch, cũng như của các lĩnh vực khác, tạo ra sự đổi mới về cách nhìn, đổi mới quan niệm về nhiều mặt, kể cả quan niệm về văn hoá. Đến lượt mình, dòng lưu chuyển này tác động trực tiếp đến giao lưu kinh tế, rõ nhất là trong kinh tế đối ngoại, để tạo cơ sở vật chất và điều kiện cho giao lưu văn hoá. Sự giao lưu thông qua xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch có một ý nghĩa tích cực đối với giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia, thậm chí có trường hợp còn tiện lợi và hiệu quả hơn so với giao lưu theo con đường chính thức.

Sự trao đổi các luồng khách du lịch giữa các khu vực trên thế giới đã góp phần làm cho các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau, tăng cường hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia, góp phần giữ gìn hoà bình thế giới. Chính vì vậy tại Hội nghị ở OSAKA (Nhật Bản), các bộ trưởng du lịch thế giới đã tuyên bố “Du lịch là con đẻ của hoà bình, là phương tiện củng cố hoà bình...”. Hiện nay có rất nhiều khách du lịch đến các khu vực xa xôi để tìm hiểu về văn hoá, lịch sử, tham quan những danh lam thắng cảnh. Việc trao đổi khách du lịch quốc tế (hay nói cách khách việc phát triển xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch) đã thúc đẩy sự giao lưu văn hoá giữa các khu vực khác nhau. Tác động của dạng thức giao lưu này sẽ tạo điều kiện để văn hoá phát triển theo xu hướng chắt lọc những tinh hoa nhân loại, đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc.

Với việc đáp ứng những nhu cầu tìm hiểu giao lưu văn hoá của khách du lịch quốc tế, cộng đồng dân địa phương nâng cao được nhận thức, trân trọng hơn giá trị văn hoá của mình. Vì vậy họ dần có ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo vệ và khôi phục những nét văn hoá đặc sắc của mình. Hiện nay nhiều những lễ hội truyền thống ở Việt Nam được khôi phục một phần là nhờ xuất phát từ mục đích phục vụ khách du lịch. Mặc khác, thông qua xuất khẩu tại chỗ các dịch vụ và hàng hoá cho khách du lịch quốc tế, cộng đồng địa phương có được nguồn thu để tái đầu tư, khôi phục, giữ gìn và phát huy những di sản văn hoá dân tộc của mình cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu qua du lịch, phục vụ khách du lịch quốc tế, Nhà nước và các nhà đầu tư sẽ phải đầu tư cho các cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng liên quan phục vụ du lịch như đường sá, sân bay, bến cảng, các khu vui chơi giải trí. Trong thời đại công nghệ phát triển như vũ bão, nhất là công nghệ thông tin, để phục vụ phát triển du lịch, hạ tầng thông tin cũng phải được đầu tư. Tuy nhiên những công trình đầu tư này không chỉ phục vụ khách du lịch quốc tế mà cả khách nội địa, người dân địa phương. Hệ thống internet không dây tại Phố cổ Hội An là một ví dụ. Năm 2012, hạ tầng internet không dây ở Hội An được đầu tư xây dựng với 23 tỷ đồng, không chỉ tạo điều  kiện cho khách du lịch mà cư dân ở đây cũng tiếp cận thông tin qua internet ở bất cứ điểm nào trong Phố cổ. Các trọng điểm du lịch cũng đang xúc tiến đẩy mạnh xây dựng thành phố du lịch thông minh. Chính vì vậy thông qua việc quan tâm đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ qua du lịch, chất lượng cuộc sống nhân dân tại điểm đến du lịch được nâng cao, nhu cầu con người được thoả mãn đa dạng hơn.

Xuất khẩu tại chỗ qua du lịch còn góp phần tạo ra nhiều việc làm. Có thể nói du lịch là một trong những ngành tạo nhiều việc làm nhất, bao gồm cả lao động có kỹ năng và lao động giản đơn, lao động bán kỹ thuật. Theo đánh giá của WTO và Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (WTTC), trung bình trên thế giới tính cứ đón 3 khách du lịch quốc tế sẽ tạo thêm 1 việc làm trực tiếp trong ngành Du lịch. Nếu ngành Du lịch tạo được thêm một việc làm có thể tạo ra từ 5 đến 9 việc làm cho các ngành khác. Năm 2012, Hoa Kỳ đã đầu tư 200 triệu USD để xúc tiến du lịch, tăng cường thu hút khách quốc tế vào Hoa Kỳ du lịch, vì cứ 38 lượt khách vào Hoa Kỳ du lịch sẽ tạo ra  việc làm ổn định cho một lao động trong 1 năm.

Du lịch là ngành dịch vụ đòi hỏi nhiều lao động trực tiếp cũng như gián tiếp. Khi xuất khẩu qua du lịch được mở rộng, các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch sẽ được đầu tư phát triển. Phần lớn các dịch vụ du lịch được trao trực tiếp cho du khách và khả năng cơ giới hoá trong ngành này còn rất hạn chế. Du lịch là ngành có nhu cầu sử dụng nhiều lao động trực tiếp, đặc biệt trong các cơ sở lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ... Để đảm bảo cung cấp, thoả mãn mọi nhu cầu hàng ngày của khách du lịch quốc tế, các cơ sở du lịch có nhu cầu rất đa dạng về lao động từ giản đơn như quét dọn, vệ sinh... đến lao động phức tạp như quản lý, marketing, hướng dẫn viên du lịch, đầu bếp... Khi du lịch quốc tế thu ngoại tệ phát triển (tức là hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch phát triển) sẽ có nhiều cơ sở du lịch được đầu tư phát triển, số lượng lao động đòi hỏi ở trên cũng tăng theo tỷ lệ thuận. Vì vậy có thể nói việc đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ qua du lịch là một hướng tốt nhằm mục đích tạo việc làm cho người lao động.

Việc thỏa mãn nhu cầu cuộc sống hàng ngày cũng như nhu cầu cao cấp về tìm hiểu văn hoá, lịch sử, cảnh quan môi trường... của khách du lịch quốc tế dẫn đến rất nhiều lao động được sử dụng trong việc tạo ra các dịch vụ liên quan phục vụ khách du lịch quốc tế như sản xuất, cung cấp thực phẩm, đồ uống, giặt là.. cho tới đi lại, sản xuất, mua bán hàng hoá, y tế... Như vậy sự phát triển, mở rộng của các hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch còn kéo theo sự mở rộng, phát triển, tạo công ăn việc làm của rất nhiều ngành liên quan đến hoạt động xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch.

So với những ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu khác (ví dụ xuất khẩu than, xuất khẩu quặng boxit) , xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch là hoạt động gây ô nhiễm môi trường thấp hơn. Dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong các sản phẩm xuất khẩu tại chỗ của du lịch. Bên cạnh đó, các ngành sản xuất liên quan, cung cấp đầu vào cho du lịch như trồng hoa, cây cảnh, rau xanh, thực phẩm, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, thêu thùa... cũng là những ngành sản xuất không có nhiều khả năng gây ô nhiễm môi trường. Mặt khác, nhu cầu chủ yếu của du khách quốc tế khi thực hiện chuyến đi của mình là tìm hiểu văn hoá, lịch sử, cảnh đẹp tự nhiên độc đáo của nước “xuất khẩu”... Họ thường là những người có ý thức trong bảo vệ giữ gìn những môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá. Hiện nay phát triển du lịch bền vững đang là xu hướng, là định hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Với việc phát triển du lịch có trách nhiệm, việc bảo vệ môi trường được coi trọng thì có thể nói du lịch quốc tế thu ngoại tệ, ngành xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch là hoạt động ít tổn hại đến môi trường, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của cả khách và chủ nhà, nơi đón khách du lịch quốc tế đến.

Như vậy, có thể nói hoạt động xuất khẩu thông qua du lịch mạng lại hiệu quả nhiều mặt cả về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường. Bên cạnh vai trò như một ngành xuất khẩu hiệu quả mang lại ngoại tệ cho đất nước, xuất khẩu tại chỗ qua du lịch có tác động nhân cấp rất lớn. Việc mở rộng, phát triển hoạt động xuất khẩu tại chỗ qua du lịch sẽ kéo theo nhiều ngành khác phát triển, tạo nhiều việc làm, góp phần tích cực cải thiện đời sống cộng đồng dân cư, có tác động trực tiếp vào chương trình xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường./.

 

TS. Nguyễn Văn Lưu - TS. Đoàn Mạnh Cương

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Công Thương, Hiệp định thương mại ASEAN, Hà Nội 2010.
  2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chiến lược phát triển  kinh tế - xã hội 2011 -2020, Hà Nội 2011.
  3. Bộ Ngoại giao, Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Nhà  Xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999.
  4. Bộ Ngoại giao, Sách chuyên khảo Chuyên đề Hợp tác Du lịch Hành lang  Đông-Tây, Hà Nội 1999.
  5. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Hiệp định hợp tác Du lịch ASEAN, Hà Nội 2010.
  6. Bộ Thương mại, Kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế, Công ty In thương mại và xây dựng, Hà Nội 2004.
  7. Kim Ngọc, Kinh tế thế giới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội  2004.
  8. Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế.
  9. Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới.
  10. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
  11. Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
  12. Nguyễn Văn Lưu (Chủ nhiệm), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch - Thực trạng và giải pháp”, năm 2004.
  13. Nguyễn Văn Lưu, Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế về du lịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004.
  14. Nguyễn Văn Lưu, Thị trường Du lịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2009.
  15. Nguyễn Văn Lưu, Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, NXB Văn hóa Thông tin, năm 2013.
  16. Nguyễn Vũ Hoàng, Các liên kết kinh tế thương mại quốc tế, NXB Thanh niên, Hà Nội 2003.
  17. Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan, Tư duy ASEAN Thay đổi tư duy marketing hướng tới cộng đồng ASEAN 2015, NXB Thanh niên, Hà Nội 2010.
  18. Quyết định số 2473/2011/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030".
  19. Tổng cục Du lịch, Báo cáo về Tầm nhìn ASEAN 2020 và Tuyên bố của Hiệp ước ASEAN II về hình thành 3 trụ cột là Cộng đồng An ninh ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng Văn hoá - Xã hội ASEAN.
  20. Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Các vùng, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tiềm năng và triển vọng đến năm 2020, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009.
  21. Viện Hợp tác nghiên cứu ASEAN, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và doanh nghiệp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001.
  22. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Báo cáo tổng hợp “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, NXB Lao động, Hà Nội 2012.