Hợp tác đào tạo

Về tính chân thực lịch sử và chân thực nghệ thuật trong tác phẩm kịch nói Việt Nam đề tài lịch sử

06 Tháng Mười Hai 2018          2140 lượt xem

Làm sống lại những nhân vật, sự kiện và câu chuyện trong lịch sử luôn là nguồn cảm hứng của sáng tạo văn học nghệ thuật ở mỗi quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Bởi vì, con người dù ở thời đại nào cũng đều mong muốn tìm đến với cội nguồn của mình, muốn đi tìm câu trả lời cho những bí ẩn và những tồn nghi quá khứ. Hơn thế nữa, lịch sử còn là điểm tựa văn hóa, là lòng tự hào, tự tôn dân tộc, giúp con người hiểu cha ông và hiểu chính mình.

Chân thực lịch sử và chân thực nghệ thuật

Do đặc thù rất riêng nên các tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung và sân khấu kịch nói nói riêng về đề tài lịch sử luôn phải chịu sức ép từ hai phía: lịch sử và nghệ thuật.

Sức ép về mặt lịch sử là những đòi hỏi về tính chân thực lịch sử trong mỗi tác phẩm kịch nói, yếu tố lịch sử luôn hiện hữu ở mọi công đoạn từ sáng tác đến thưởng thức. Tác phẩm được xem là đảm bảo tính chân thực lịch sử khi những vấn đề lịch sử được phản ánh trong tác phẩm giữ được hiện thực lịch sử đã được ghi chép trong sử sách. Và hiện thực ấy đã nghiễm nhiên trở thành thước đo, thành khuôn mẫu để đánh giá những sáng tạo của người nghệ sĩ. Do đó, chân thực lịch sử đã được xem là một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá vở diễn về đề tài lịch sử. Và vô hình chung, mọi tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử đều phải chịu áp lực rất lớn của tính chân thực lịch sử.

Về sức ép nghệ thuật, như trên đã đề cập, dưới góc độ nào đó, những đòi hỏi này là chính đáng, bởi lẽ, kịch nói đã lựa chọn một đề tài lấy sự kiện và nhân vật có thật làm đối tượng miêu tả. Tuy nhiên, với tư cách là tác phẩm nghệ thuật thì vở diễn kịch nói phải tuân thủ và đáp ứng tiêu chí của một tác phẩm nghệ thuật. Khi đã là tác phẩm nghệ thuật thì không thể lấy tiêu chí của Khoa học lịch sử để áp đặt đối với vở diễn về đề tài lịch sử.

 Nghệ thuật xem trọng hư cấu, lấy hư cấu làm giá trị, sử học xem trọng biên niên sự kiện, lấy sự thật làm giá trị. Trên thực tế, cả nghệ thuật và lịch sử đều không thể thực hiện tôn chỉ này một cách toàn vẹn. Vì, cho dù có cố gắng đến đâu thì sử học cũng không thể có được một cái nhìn khách quan, chân thật tuyệt đối, bên cạnh dòng lịch sử thực tế khách quan bao giờ cũng tồn tại dòng lịch sử nhận thức chủ quan của người đương thời, trong đó có người chép sử. Hiện thực lịch sử được ghi chép trong sử sách cũng là sản phẩm diễn ngôn của một người hay một nhóm người, họ cũng chịu sự tác động nhất định của điều kiện, hoàn cảnh sống và một trình độ nhận thức nhất định. Các sử gia thời phong kiến còn chịu sự chi phối bởi hệ tư tưởng của thời đại, giai cấp mình, thậm chí là tầng lớp thống trị khi đánh giá sự kiện, nhân vật lịch sử. Dù là nhà sử học nào, có trình độ học vấn uyên thâm đến đâu, cũng không thể khách quan hoàn toàn khi viết sử và những điều được ghi chép trong sử sách chưa hẳn đã là hiện thực lịch sử khách quan. Nói như thế để thấy rằng, bản thân lịch sử cũng chưa thể đạt đến sự khách quan tuyệt đối và khái niệm "sự thật lịch sử" còn mang nhiều tính chủ quan thì tại sao lại áp đặt cho nghệ thuật - một sản phẩm của trí tưởng tượng, sáng tạo phải đảm bảo sự "chân thật lịch sử"?

Khoa học lịch sử đi tìm và dựng lại bộ mặt lịch sử như nó đã từng xảy ra trong quá khứ theo trình tự thời gian, còn tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử đi tìm những nét tiêu biểu, những hành động điển hình trong những hoàn cảnh điển hình nhằm tái hiện con người và sự kiện lịch sử như nó có thể xảy ra. Nhà sử học quan tâm đến sự đầy đủ, xác thực, cốt để mỗi sự kiện, nhân vật tự nói lên ý nghĩa thì đối với người nghệ sĩ là sự sáng tạo ra những ý nghĩa mới của sự kiện, nhân vật lịch sử. Khoa học lịch sử nhìn thấy những bài học chính trị phía sau mỗi sự kiện lịch sử thì tác phẩm kịch nói gợi ý những bài học có ý nghĩa nhân sinh. Nếu như công việc của nhà sử học có lúc đạt đến sự hoàn tất thì công việc sáng tạo của người nghệ sĩ lại vô cùng.

Tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử là sản phẩm của những xúc cảm trước lịch sử của người nghệ sĩ. Lịch sử dù rộng lớn đến đâu, khi trở thành đề tài của kịch nói thì cũng giống như bao đề tài khác, nó vẫn phải tuân thủ các đặc trưng, quy luật sáng tạo của kịch nói. Nhân vật lịch sử khi đó sẽ trở thành nhân vật của kịch nói và chịu sự chi phối của những nguyên tắc sáng tạo kịch nói. Dù có là anh hùng hào kiệt, kinh bang tế thế thì nhân vật lịch sử vẫn phải do một nghệ sĩ thể hiện và hiển nhiên nó sẽ mang những dấu ấn sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ ấy. Logic của nhân vật kịch trong tác phẩm không phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử đã ghi trong sử sách mà là logic nghệ thuật, đảm bảo tính chân thực nghệ thuật. Tính chân thực ở đây chính là việc để người xem tin là thực, chứ không phải giống như thực. Tiêu chí tin là thực chính là khoảng mở cho những sáng tạo của người nghệ sỹ thực hiện tôn chỉ chân thực nghệ thuật, lấy chân thực nghệ thuật làm trọng.

Chính sự nhầm lẫn trong nhận thức và đánh giá giữa tính chân thực lịch sử và chân thực nghệ thuật của một số nhà sử học và các nghệ sĩ sáng tạo đã dẫn tới sự đồng nhất các vấn đề được phản ánh trong tác phẩm với hiện thực lịch sử được ghi chép trong sử sách, đồng thời lấy đó làm tiêu chí đánh giá tác phẩm là không công bằng với lịch sử cũng như không công bằng với tác phẩm nghệ thuật.

Tác phẩm kịch nói đề tài lịch sử - sản phẩm của sáng tạo hiển nhiên phải thực hiện tôn chỉ "chân thực nghệ thuật", hướng người xem đến mục đích tin là thực chứ không phải giống như thực. Tiêu chí hướng đến của tác phẩm là tái hiện cái tinh thần lịch sử, tâm thức của lịch sử chứ không phải việc coppy lịch sử. Tinh thần và tâm thức của lịch sử là những điều có thể không được ghi chép trong sử sách nhưng lại có thể xảy ra bởi mối liên hệ và sự vận động theo quy luật tất yếu của nó.

Một số sáng tạo tiêu biểu

Trong vở Ngọc Hân công chúa, tác giả Lưu Quang Vũ đã không xây dựng hình tượng một vị tướng giỏi xông pha trận mạc như sử sách đã viết về hoàng đế Quang Trung mà viết về câu chuyện tình đẹp của Ngọc Hân và Nguyễn Huệ bắt đầu từ một mưu đồ chính trị. Hai cái tôi tài năng, bản lĩnh và đầy kiêu hãnh đã buộc phải trở thành chồng vợ, họ đã đi từ sự nghi kỵ, khinh thường... đến thực sự hiểu nhau và dành tình cảm cho nhau. Người xem đã được gặp một Nguyễn Huệ không chỉ là một Bắc Bình Vương với tài thao lược, mà còn gặp một tâm hồn biết yêu hoa, yêu thơ, say đắm một tiếng đàn... một vị thủ lĩnh biết nhìn nhận những khiếm khuyết của mình, biết trọng hiền tài và thương kẻ sĩ... Ngọc Hân trong kịch không chỉ là một nàng công chúa lá ngọc cành vàng, một nữ học sĩ tài cao hiểu rộng, biết lẽ cương thường mà còn sẵn sàng xả thân giả trai vượt bao nguy hiểm tìm gặp và thuyết phục các sĩ phu Bắc Hà về với nhà Nguyễn Tây Sơn. Hai tâm hồn, hai nhân cách lớn đó đã biết tìm đến với nhau, chia sẻ cùng nhau để khi đến cuối kịch, họ thực sự trở thành tri kỷ. Bài thơ Ai tư vãn của Ngọc Hân khóc trước quan tài Quang Trung Nguyễn Huệ là một cái kết hợp lý và đầy cảm xúc.

Đó là cách tiếp cận hợp lý của tác giả từ câu chuyện lịch sử năm nào. Cuộc hôn nhân không bắt đầu từ tình yêu trong lịch sử đã trở nên thi vị nhờ những sáng tạo biết chắt chiu những khoảng trống mà những văn bản lịch sử không thể nói hết. Trên thực tế, tình cảm ấy hoàn toàn có thể xảy ra giữa đôi trai tài gái sắc lại có chung khát vọng lớn về hòa bình và phát triển cho đất nước. Hình tượng Quang Trung - Nguyễn Huệ cũng trở nên hoàn thiện, đẹp đẽ hơn so với chính nó trong sử sách và để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng khán giả. Qua tác phẩm, nhân vật đã thực sự có được đời sống của riêng mình với một tâm hồn đủ để cảm thụ và biết rung động trước cái hay, cái đẹp; một trái tim nhân ái để biết thương kẻ sĩ; một trí tuệ để biết trọng hiền tài... Đấng quân vương hội đủ cả Trí, Dũng cùng những ứng xử thông minh, hợp lẽ đã bước ra từ trang kịch của Lưu Quang Vũ với sức sống và một vẻ đẹp đến mức hoàn thiện. Sức sống, vẻ đẹp ấy hiển nhiên không thể có được trên những trang sử đã ẩm bụi thời gian.

Hình tượng Nguyễn Huệ sở dĩ có được tầm vóc như vậy là bởi ê kíp sáng tạo đã không lệ thuộc vào “sự thật lịch sử" mà sáng tạo trên nguyên tắc đảm bảo tính chân thực nghệ thuật. Tình yêu cao đẹp giữa hai nhân vật lịch sử trong vở diễn đã thuyết phục người xem tin là thực mà không băn khoăn nhiều đến việc có hay không có tình yêu ấy trong lịch sử.

Cùng viết về nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ, tác giả Trúc Đường đã có những sáng tạo đáng ghi nhận trong vở diễn Quang Trung. Kịch viết rằng, sau khi đánh thắng 20 vạn quân xâm lược nhà Thanh tại cứ điểm Ngọc Hồi, vua Quang Trung cùng quân sĩ tiến vào Thăng Long. Khi đến làng Ngọc Hà, thấy hoa đào nở đẹp, nhà vua thân hành chọn một cây đào đẹp nhất, sai người tâm phúc đi suốt ngày đêm mang về Phú Xuân tặng cho công chúa Ngọc Hân. Sáng tạo này đã mang đến chất thơ cho tác phẩm, đồng thời mang đến một diện mạo khác cho nhân vật Quang Trung. Người thủ lĩnh tài ba xông pha trận mạc ấy bỗng trở nên thật lịch lãm từ hành động vô cùng đẹp đẽ ấy. Cành đào là niềm vui báo tin thắng trận, là hơi ấm của mùa xuân Hà Nội gửi đến người con gái xa quê, là cách quan tâm đầy tinh tế của chồng dành cho vợ, là món quà kết tinh của tình yêu... Về logic nghệ thuật, đây là những sáng tạo hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh và tính cách của nhân vật đã được quy định trong kịch. Những sáng tạo này đã kế thừa được tinh thần và tâm thức của lịch sử chứ không bám sát, photocoppy lịch sử. Các nghệ sĩ đã khỏa lấp những khoảng trống mà lịch sử còn bỏ ngỏ bằng một sự kiện khiến người xem tin rằng nó có thể xảy ra và nhiều nhà viết sử hiện đại đã coi sự kiện này dường như là có thật.

Tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử không làm nhiệm vụ minh họa lịch sử, không nhằm truyền đạt tri thức lịch sử, cũng không phải là một bài học về luân lý đạo đức cũ. Các nghệ sĩ cũng không ai đặt mục tiêu dạy sử bằng tác phẩm sân khấu mà đó là việc của các giáo viên dạy lịch sử từ tiểu học đến trung học qua những giờ giảng trên lớp. Thực chất của sáng tạo kịch nói về đề tài lịch sử là khai thác hiện thực lịch sử theo một cách thức tiếp cận mới, một cảm hứng mới trên nguyên tắc vừa tôn trọng lịch sử vừa tôn trọng tính chân thực nghệ thuật. Sáng tạo ấy chuyển tải thông điệp của người nghệ sĩ hướng tới người xem đương đại. Cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác, sân khấu kịch nói đề tài lịch sử có thể mang lại những bài học và thực hiện chức năng giáo dục, tuy nhiên giáo dục thông qua tác phẩm kịch không giống với việc dạy sử ở phổ thông mà bao giờ cũng thông qua các hình tượng nghệ thuật, tuân thủ nguyên tắc của sáng tạo nghệ thuật. Nếu như lấy tiêu chí phản ánh đúng "người thực việc thực" và lấy kiến thức trong sử sách để cân đo những sáng tạo của người nghệ sĩ trong tác phẩm là đúng hay không đúng với lịch sử thì sẽ không bao giờ tiếp cận được với giá trị đích thực của tác phẩm.

Tác phẩm kịch nói đề tài lịch sử là sản phẩm sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ. Các tình tiết, sự kiện và nhân vật trong lịch sử chỉ là chất liệu khai thác, lịch sử không thể áp đặt cũng như không thể chi phối những sáng tạo ấy. Việc tái hiện các sự kiện, nhân vật lịch sử trong tác phẩm cũng không hẳn là để nói về triều đại ấy, nhân vật ấy. Các nghệ sĩ dù có cố gắng đến đâu thì cũng không thể làm phép hồi sinh đối với sự kiện và nhân vật lịch sử, cũng như không thể khiến người xem tin là thật rằng đó chính là nhân vật lịch sử. Ngay cả khi người nghệ sỹ có may mắn được sống cùng thời với sự kiện và nhân vật lịch sử nào đó thì cũng chỉ tiệm cận đến sự thật nguyên mẫu của lịch sử mà thôi. Tác phẩm - đó là sản phẩm của trí tưởng tượng, sáng tạo toàn bộ, toàn diện của người nghệ sỹ trước hiện thực lịch sử chứ không phải là kết quả của sự chuyển dịch những con số, sự kiện được liệt kê trong sử sách sang ngôn ngữ của hình ảnh, của hình tượng nhân vật. Tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử là hành trình tiếp tục chặng đường mà các sử gia dừng lại để tìm tòi, tiên nghiệm một sự thật còn hơn cả sự thật được ghi trong sử sách, đó là sự thật theo lòng người, theo lẽ đời mà con người ở mọi thời đại khác nhau đều có thể đồng cảm, sẻ chia.

Thay lời kết

Từ thời cổ đại, Aristote đã viết rằng: “Nhà sử học nói về những điều xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói về những gì có thể xảy ra...”(1). Những điều có thể xảy ra ở đây chính là khoảng mở cho những sáng tạo của người nghệ sĩ được lấp đầy bằng những phán đoán, suy luận sao cho phù hợp với quy luật vận động của cuộc sống và với logic nghệ thuật. Nói rộng ra, nghệ thuật không lệ thuộc vào việc tái hiện chân thực những điều đã xảy ra mà là sự phát triển cái tinh thần, tâm thức của lịch sử trong tác phẩm. Cái tinh thần và tâm thức của lịch sử ấy chính là những điều có thể xảy ra, thậm chí sự có thể ấy chỉ là xác suất mà không phải bám sát vào hiện thực lịch sử.

Lịch sử và tác phẩm kịch nói đề tài lịch sử đều có cái lý tồn tại của riêng mình mà không thể lấy nguyên tắc của bên nào áp đặt cho bên nào. Cũng giống như lịch sử, nghệ thuật kịch nói có những nguyên tắc sáng tạo riêng, cần phải được tôn trọng! Tuy nhiên, vì viết về những nhân vật có thực trong lịch sử nên người sáng tạo cần nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt những tài liệu lịch sử một cách đầy đủ, chính xác nhất... Có như vậy, mới có thể nắm được cái tinh thần, tâm thức lịch sử để phát triển nó trong tác phẩm của mình. Sự lý giải và miêu tả hình tượng các nhân vật lịch sử hoàn toàn do sức tưởng tượng của người nghệ sĩ, nhưng phải là sự tưởng tượng và hư cấu trên cơ sở hiểu biết chắc chắn về lịch sử. Điều này khiến cho người nghệ sĩ vừa phát huy được những sáng tạo của mình vừa không xung đột với tâm thức của cộng đồng về các giá trị lịch sử.

Với tác phẩm kịch nói đề tài lịch sử nói riêng và văn học nghệ thuật đề tài lịch sử nói chung, khi nào nhà sử học ngừng bút thì người nghệ sĩ bắt đầu. Sự bắt đầu ấy được sáng tạo trên nguyên tắc tuân thủ phẩm chất cốt lõi nhất của lịch sử, đó là tinh thần của lịch sử, hồn cốt của lịch sử chứ không phải là bản thân lịch sử và được kiểm soát bởi logic nghệ thuật và lịch sử. Để làm được điều đó, người nghệ sĩ vừa phải có kiến thức uyên bác và phẩm chất trung thực của nhà viết sử, đồng thời phải có tài năng của một nhà trần thuật nghệ thuật. Nếu lựa chọn được cách tiếp cận đúng đắn, thì cũng giống như các đề tài khác, đề tài lịch sử không hạn chế khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ.

                                                                                                                                         TS. Phạm Việt Hà

Tài liệu tham khảo

1. Aristote (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội.

2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2000), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

3. Trúc Đường (1962), Quang Trung, Nxb Văn học, Hà Nội.


(1) Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội (2007), tr 45.