Hợp tác đào tạo

Ngôn ngữ độc thoại trong kịch

14 Tháng Mười Hai 2018          2716 lượt xem

Trong ngôn ngữ kịch, cùng với rất nhiều chức năng khác nhau như dẫn chuyện, kể chuyện, thể hiện tính cách nhân vật và bộc lộ tư tưởng chủ đề tác phẩm… thì độc thoại (giải mã những bí ẩn trong chiều sâu nội tâm nhân vật) có một vị trí thật đặc biệt. Không giống với những hình thức đối thoại khác, vốn là phương tiện để trao đổi thông tin giữa hai hay nhiều nhân vật cùng xuất hiện trên sân khấu, độc thoại là tiếng lòng nhân vật với tất cả buồn, vui, âu lo, trăn trở, cả hạnh phúc lẫn khổ đau. Nó là những uẩn khúc rất riêng tư không dễ gì có thể dãi bày, chia sẻ.

Độc thoại chính là phần con người - cá nhân hướng ngoại đầy tính nhân bản, khi mà phần hướng nội - muốn dấu kín mọi suy tư đã đẩy nhân vật vào trạng thái tinh thần bất ổn. Những phần sâu kín, riêng tư thường là một thế giới riêng bí ẩn mà nếu không bị thôi thúc bởi một áp lực tâm lý nào đó, có lẽ nhân vật sẽ chẳng bao giờ tiết lộ với ai. Vì gắn với nó, còn là tính mạng, là sinh mệnh của nhân vật nữa.

Nhưng chính giao điểm của những cân nhắc, lựa chọn đẩy nhân vật đến quyết định nói ra những điều hệ trọng, bất chấp sự an nguy của tính mạng mình, vì không thể để trong lòng với quá nhiều day dứt, đã tạo nên cái hay rất riêng cho độc thoại. Thế nên những lời độc thoại bao giờ cũng thiêng liêng và thường đưa tình huống kịch vào một thế giới huyền thoại. Với màu sắc rất riêng như vậy, độc thoại là những lúc nhân vật kịch nói với chính mình, nói với nhân vật không có mặt, hoặc với những vật vô tri. Độc thoại do đó thường là những ngôn ngữ nhiều triết lý, ít mang tính sinh hoạt đời thường.

1. Nói với chính mình

Lựa chọn nói với chính mình là lúc nhân vật rơi vào trạng thái đặc biệt của tâm hồn. Cũng có thể, do không có người để dãi bày, hoặc vì nhiều lý do mà nhân vật không muốn nói cùng người khác. Điều cần bộc lộ thường là một sự nuối tiếc, tuyệt vọng, một câu hỏi chưa có lời giải đáp, hoặc giải đáp được rồi nhưng còn nghi ngờ, hay một dự định lớn... thậm chí là một âm mưu ghê gớm. Nhân vật kịch thường độc thoại với chính mình trong ba tình huống: Trước khi thực hiện ý đồ, đang thực hiện, và khi đã thực hiện xong.

Trước khi thực hiện một ý đồ, hay một dự định nào đó, nhân vật thường băn khoăn, ngập ngừng giữa nên và không nên. Tựu chung, đó là những việc mà chắc chắn sẽ tạo ra một bước ngoặt lớn, làm chuyển biến số phận nhân vật. Đây là những việc quan trọng nhất, mà khi đối diện với nó, nhân vật sẽ phải đứng trước sự lựa chọn, hoặc vi phạm vào tính nhân bản, nhân đạo, hoặc sẽ không còn là chính mình. Vì phần lớn những ý đồ còn nằm trong dự định, nên nhân vật phải đối diện với những xao động ghê gớm. Bởi vậy, những lời độc thoại lúc này sẽ rất căng thẳng, quyết liệt và thường hiển thị được động cơ bên trong của nhân vật.

Khi nhân vật đang thực hiện ý đồ, có thể sẽ gặp phải một lực cản từ các phía khách quan, chủ quan… khiến nó hoài nghi hành động, ý chí của mình. Cho dù ý đồ đang được thực hiện, nhưng nhân vật cần có khoảng dừng để kiểm định lại, rồi mới đi tới quyết định có nên tiếp tục hay không. Giữa cái băn khoăn, do dự của nhân vật, bao giờ cũng có sự đan cài với những kỷ niệm của quá khứ, của những hối thúc lựa chọn giữa tình cảm và lý trí… Do đó, ngôn ngữ của độc thoại trong tình huống này thường đậm chất trữ tình, mềm mại.

Khi thực hiện xong ý đồ, nhân vật sẽ rơi vào hai trạng thái cảm xúc, hoặc vô cùng sung sướng, hoặc đau khổ, hối hận… và sẽ nhận biết sau những trả giá ghê gớm. Dù đau khổ, hối hận, hay sung sướng, thì kết quả của hành động đã lựa chọn ấy, cũng đưa nhân vật vào một trạng thái không bình thường và mất thăng bằng về tâm lý. Tuy không dữ dội, quyết liệt, nhưng những lời độc thoại lúc này lại đầy trữ tình và bộc lộ rất rõ cái tôi nhân vật.

Nói với chính mình là khi nhân vật mang nhiều trăn trở, day dứt nhất. Đây cũng là lúc nhân vật rơi vào trạng thái không bình thường, hoặc chỉ bình thường với chính nhân vật trong hoàn cảnh ấy. Nhân vật dù có nói với chính mình, nhưng cũng là nói với khán giả, nên rất cần gửi gắm ở đó một quan niệm, hay triết lý sống của nhà viết kịch.

2. Nói với sự vật

Nhân vật kịch độc thoại với sự vật khi đứng trước những xao động ghê gớm trong tâm hồn. Các sự vật trong tình huống này đã được nhân cách hoá để có thể chia sẻ, cảm thông với nhân vật. Sự vật ở đây phải gắn bó với nhân vật, chứng kiến nhân vật, gắn với nhiều hồi ức, kỷ niệm đến mức nhân vật có thể thốt ra được mà không cảm thấy nguy hại đến tính mạng của mình. Sự vật lúc này như trở thành người thân của nhân vật. Có thể đó là ngôi nhà, góc sân, cái cây, vật kỷ niệm… tất cả đều gắn với quá khứ đến mức, nó trở nên thân thương và không thể thiếu đối với nhân vật. Những sự vật đó là nhân chứng lịch sử, có thể làm sống dậy cả một quá khứ, một thế giới huyền thoại. Phần nhiều, độc thoại - nói với sự vật diễn ra trong trường hợp sinh ly, tử biệt và đây là trường hợp được sử dụng rất nhiều trong kịch. Kiểu độc thoại này còn tạo ra một nguy cơ gây hồi hộp nhất - nguy cơ phải đối diện với quá khứ, với ý đồ.

3. Nói với nhân vật không có mặt

Lựa chọn nói với người không có mặt là thời điểm rất nhạy cảm trong thế giới nội tâm nhân vật kịch. Nhân vật kia có thể đi đâu đó vắng mặt, hoặc đã yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng. Nội dung của lời độc thoại sẽ liên quan rất nhiều đến hình thức độc thoại, và do đó, nhân vật nói với người không có mặt chỉ có thể là những gì liên quan đến người ấy. Đó là một lời thanh minh, một lời nhắn thầm, một lời xin lỗi… cũng có thể là cả những dự định, âm mưu. Lúc này, nhân vật kịch bị đặt trước tình huống không thể không nói, và những lời nói ra là tình cảm thật mà không cần che dấu.

Độc thoại vốn là một biện pháp mĩ học không thể thiếu trong văn chương bi kịch. Những lớp độc thoại cùng với sự dồn nén tâm tư, cảm xúc của nhân vật bi kịch, đã làm nên chiều sâu của ngôn ngữ và nội dung kịch.

Nhân vật kịch chỉ có thể độc thoại khi tới được sự chân thành cao nhất với chính mình. Bởi thế, văn chương độc thoại không thể là những lời khuôn sáo, bay bổng, uốn lượn. Nhất định đó phải là những lời nói từ trái tim, trong sâu thẳm của trái tim. Cái thế giới huyền thoại đẩy nhân vật vào tình huống độc thoại cũng không cho phép sự thô lỗ, tục tằn. Nhưng khi nhân vật sống với sự chân thành cao nhất của mình thì không thể không cất những lời có cánh. Văn chương độc thoại vì thế rất cần tới được sự rung cảm sâu xa từ phía người tiếp nhận. Nếu không để chia sẻ và mong nhận được sự đồng cảm thì nhân vật kịch cũng chẳng nên độc thoại làm gì.

Độc thoại có rất nhiều trong đối thoại, còn được gọi là xu thế độc thoại hoá trong đối thoại của văn chương kịch. Lời nói độc thoại vốn làm cho những điều được diễn tả trên sân khấu vượt khỏi bản thân nó, đưa người xem vào thế giới huyền thoại - thế giới tâm linh, nơi mà người ta vẫn nói rằng thật hơn cả sự thật. Song độc thoại cũng dễ làm cho cuộc sống trong kịch trở nên giả tạo nếu không có được sự vận dụng phù hợp của nhà văn. Và độc thoại chỉ khi nào được diễn hoá trở thành đài từ, thì đó mới là bản chất cuối cùng của nghệ thuật sân khấu - đây chính là thách thức lớn nhất đối với nhà viết kịch.

4. Thể hiện ngôn ngữ độc thoại trên sân khấu

Ngôn ngữ độc thoại chỉ khi nào được hiện thực hóa trên sân khấu bằng tài năng của người diễn viên thì nó mới đi đến tận cùng giá trị của ngôn ngữ kịch. Trong quá trình đào tạo diễn viên sân khấu, môn học Tiếng nói luôn được các giảng viên, đạo diễn quan tâm và trao truyền bí quyết sáng tạo cho các học trò-nghệ sĩ tương lai. Bởi đây chính là một trong những kỹ năng vô cùng quan trọng của người diễn viên khi sáng tạo nhân vật. Trên thực tế, để thể hiện, biểu cảm được đúng cảm xúc, tính cách, hoàn cảnh của nhân vật trên sân khấu bằng ngôn ngữ đã là một thử thách lớn đối với diễn viên, nhưng thể hiện thành công những lời ngầm, ý ngầm qua ngôn ngữ độc thoại cùng những phút ngưng lặng trên sân khấu bằng sắc thái khuôn mặt và hình thể thì đó chính là tài năng, đẳng cấp của diễn viên. Lịch sử sân khấu Việt Nam đã ghi nhận những phút giây sáng tạo thăng hoa khi thể hiện ngôn ngữ độc thoại trên sân khấu của người diễn viên mà thành công của NSND Lê Khanh trong vai diễn Lý Chiêu Hoàng với lớp độc thoại gần 30 phút trước bàn thờ tiên đế (vở diễn Rừng trúc của nhà văn Nguyễn Đình Thi) là một trong những sáng tạo điển hình. Ở lớp kịch này, Lê Khanh đã cẩn trọng đến từng cách buông câu, nhả chữ, cân nhắc từng đoạn lấy hơi, dừng nghỉ… Cả một thế giới nội tâm xiết bao phức tạp của Chiêu Thánh đã dần được tỏ bày qua cách diễn xuất tỉnh táo, tinh tế nhưng cũng đầy thăng hoa của Lê Khanh. Nhân vật Lý Chiêu Hoàng đã bước ra từ Rừng trúc bằng diện mạo của một bà hoàng tài sắc, thông tuệ, quyết đoán với những ứng xử xứng hợp nhất cho sự tồn vong của giang sơn, đất nước mà sẵn lòng nhận về mình bi kịch của cả dòng họ lẫn bi kịch của riêng mình. Một Lý Chiêu Hoàng đã được người đời mắt thấy, tai nghe với bao nhiêu cảm thương và khâm phục… Từ hàng ghế khán giả, thi sĩ Dương Trọng Dật đã gọi phút tỏa sáng của Lê Khanh là Phút thăng hoa kỳ diệu. Ông viết: “Sống dậy trước mắt tôi ngạo nghễ Lý Chiêu Hoàng/Cả nhà hát lặng đi/Sân khấu chỉ còn em và lịch sử/Thương đất nước trầm luân trong cơn chòng chành sóng dữ/Nghe trong tiếng em thở dài/Những trăn trở của người xưa…” [7, tr 212, 213]. Những sáng tạo thăng hoa của NSND Lê Khanh trong vai diễn Lý Chiêu Hoàng đã trở thành bài học quý giá cho rất nhiều thế hệ học sinh, sinh viên và các nghệ sĩ trẻ sau này.

                                                                                                                                      TS. Phạm Việt Hà

 

Tài liệu tham khảo

1. Anhist A. (2003), Lý luận kịch từ Aristote đến Lessin, Tất Thắng dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

2. Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình (1988), Lý luận văn học, Tập 3, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.

3. Gulaiep N.A. (1982), Lý luận văn học, Lê Ngọc Tân dịch, Nguyễn Đức Nam hiệu đính Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

4. Đình Quang (2003), Về mĩ học và văn học kịch, Nxb Sân khấu, Hà Nội.

5. Nguyễn Đức Lộc (1999), Chất thơ trong sân khấu, Viện Sân khấu-Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, Hà Nội.

6. Hồ Ngọc (1973), Nghệ thuật viết kịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

7. Nguyễn Thị Minh Thái (2005), Sân khấu và tôi, Nxb Sân khấu, Hà Nội.