Hợp tác đào tạo

MỘT VÀI BÀN LUẬN VỀ ÂM NHẠC HỌC

14 Tháng Mười Hai 2018          2184 lượt xem

Lược sử về thuật ngữ Âm nhạc học

Ở phương Tây, thuật ngữ âm nhạc học (Musicology/Musikwiseeschatft) được sử dụng từ thế kỷ XIX, tuy nhiên muốn tìm hiểu về công tác nghiên cứu âm nhạc cần trở về thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Có thể nói, nhà tư tưởng, nhà toán học vĩ đại Pythagoras (580-500 TCN) là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu âm hưởng học, là ông tổ của lĩnh vực nghiên cứu triết học âm nhạc. Nhà lý luận âm nhạc Aristoxenos[1] (thế kỷ IV TCN) phản đối chủ trương dựa vào số học để giải thích âm nhạc của Pythagoras.

Vào thời trung cổ, lý luận âm nhạc giáo hội của châu Âu giữ vị trí thống trị. Boethius (480-524) kế thừa kết quả nghiên cứu của Pythagoras tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa âm nhạc và con số, khiến lý luận âm nhạc trở thành một điều vô cùng bí ẩn.

Vào thế kỷ XIV, Mooers đã biên tập các lý luận âm nhạc thành sách và nó trở thành cơ sở trong giáo dục âm nhạc đại học suốt 2 thế kỷ sau đó.

Vào thời kỳ văn hóa Phục Hưng, nghệ thuật dần dần thoát ra khỏi sự trói buộc của thần học. Vào khoảng năm 1300, nhiều học giả đương thời đưa ra quan điểm chủ nghĩa nhân văn, coi âm nhạc là nghệ thuật của những người sáng tạo ra âm thanh, và cho rằng khoa học âm nhạc của số học không thể xếp ngang hàng với nghệ thuật.

Năm 1547, Gelielian đã chỉ rõ: Âm nhạc chủ yếu là 1 hình thức hoạt động của nhân loại, nhưng không phải là 1 bộ môn khoa học khép kín, và cũng không phải là hình mẫu của vũ trụ. Con người tạo ra âm nhạc phức điệu chứ không phải là thượng đế.

Vào thế kỷ XVII, tại châu Âu bắt đầu xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu lịch sử âm nhạc. Sau tuyển tập tài liệu âm nhạc cổ đại của Boehm, Prinz đã biên soạn bộ sách đầu tiên nói về lịch sử âm nhạc mang tính chất biên niên sử (1690). Tiếp đến, Galileo dựa trên cơ sở của vật lý học thực tiễn để tiến hành nghiên cứu âm hưởng học qua phương pháp cảm ứng dao động.

Đầu thế kỷ XVIII, nhiều nhà nghiên cứu như Rameau (1683-1764) đã thử hệ thống hóa hòa thanh học, phương pháp sáng tác âm nhạc và thứ tự cao độ của 12 bình quân luật.

Thế kỷ XIX đã mở ra sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện của mọi lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc, và cuối cùng cũng hình thành được bộ môn khoa học âm nhạc học. Trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử âm nhạc, những nghiên cứu về âm nhạc Hy Lạp cổ và đế quốc La Mã đều đạt được những bước phát triển lớn, Gregory đã cho xuất bản những cuốn sách có tầm tổng hợp quy mô lớn như tuyển tập tài liệu về lịch sử âm nhạc và toàn tập các nhà soạn nhạc vĩ đại.

 

 

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Từ nửa trước của thế kỷ thứ XVIII, người châu Âu[2] đã rất quan tâm đến âm nhạc Phương Đông. Ghi chép, nghiên cứu âm nhạc Trung Quốc ở thời kỳ ấy điển hình có Jean - Baptiste Du HatdeJoseph Amiod; Nghiên cứu âm nhạc Nhật Bản có Guillaume - André Villoteau Francis Taylor Piggot; Âm nhạc Ấn Độ có William Jones và Charles Russel Day. [3]… Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ thứ XIX, cùng với sự ra đời của Tạp chí Âm nhạc học ở Đức số đầu tiên,học giả người Đức: Friedrich Churysander (1826 - 1901) cho xuất bản “Jahrbücher für Musikalische Wissenschaft - 1863” (Niêm giám khoa học âm nhạc - năm 1863) thì Âm nhạc học mới thực sự được xem là một ngành nghiên cứu khoa học. Trong tiếng Đức, Musik - Âm nhạc, Wissenschaft - khoa học. Đặc biệt là 22 năm sau, khi “Umfang, Methode und Ziel der Musikwissenschaft - 1885” (Phạm vi, phương pháp và mục tiêu nghiên cứu của Âm nhạc học - năm 1885) của nhà Âm nhạc học người Đức - GuiDo Adler (1855- 1941) xuất hiện thì những vấn đề về vị trí Mỹ học âm nhạc trong hệ thống Âm nhạc học mới được đề cập và nghiên cứu chỉnh thể. Tuy nhiên, điều này có chính xác và mang tính toàn diện hay không? Chúng ta cùng nhìn lại về lịch sử phát triển và những định nghĩa về ngành khoa học còn non trẻ này.

Những năm 60 của thế kỉ XIX, một số học giả của Đức như Helm Holtz đã đưa ra ý kiến sau: Âm nhạc học cần lấy những nguyên liệu vật chất cấu thành nên âm nhạc và quá trình cảm thụ nó làm đối tượng nghiên cứu chính. Nói cách khác, nghiên cứu âm nhạc lấy quá trình vật lý của việc sinh ra và truyền bá âm nhạc cùng quá trình sinh lý mà con người cảm thụ được nó làm đối tượng. Nói cách khác, đối tượng nghiên cứa của Âm nhạc học là những hiện tượng vật lý âm thanh và sinh lý học âm thanh, và như vậy Âm nhạc học nghiễm nhiên đã trở thành một bộ phận cấu thành của khoa học tự nhiên.

Cuối thế kỉ XIX, một số nhà nghiên cứu âm nhạc của phương Tây có quan niệm truyền thống như sau: nghiên cứu Âm nhạc học cần phải lấy lịch sử phát triển của âm nhạc hoặc nói chính xác hơn là lấy lịch sử âm nhạc phương Tây làm trọng tâm nghiên cứu. Trong một giai đoạn nào đó, họ đã coi nghiên cứu lịch sử âm nhạc phương Tây là Âm nhạc học (Musicology) đồng thời lại gọi những nghiên cứu lịch sử âm nhạckhu vực ngoài châu Âu là Âm nhạc học Dân tộc (Ethnomusicology).

Đến năm 1980, trong mục “Âm nhạc học” cuốn 12 của “Tân từ điển âm nhạc Grove và nhạc sĩ ” có viết: Âm nhạc học là lĩnh vực tri thức, lĩnh vực tri thức này xem nghệ thuật âm nhạc là một hiện tượng vật lý, tâm lý, mỹ học và văn hóa, tất cả là đối tượng nghiên cứu của Âm nhạc học. Có nghĩa là: lấy quy luật, tính chất nghệ thuật trong một chủ thể âm nhạc của toàn bộ nhân loại làm đối tượng nghiên cứu.

Năm 1989, trong mục “Âm nhạc học” (do Liễu Nãi Hùng, La Truyền Khai biên soạn) của cuốn “Bách khoa toàn thư Trung Quốc - Vũ điệu âm nhạc” cho rằng: Âm nhạc học chỉ việc nghiên cứu những lý luận khoa học có trong âm nhạc.

Vào năm 1997, trong mục “Âm nhạc học” của “ Tân từ điển âm nhạc” xuất bản tại Nhật Bản có viết: Âm nhạc học là một lĩnh vực học thuật nghiên cứu mọi thứ có liên quan đến âm nhạc và được vận dụng mọi phương pháp khoa học tiên tiến để nghiên cứu (phương diện khoa học tự nhiên, nhân văn và xã hội).

Nhiệm vụ chung của Âm nhạc học là làm sáng tỏ bản chất cũng như quy luật của âm nhạc thông qua những hiện tượng tự nhiên, xã hội và văn hoá có liên quan đến âm nhạc.

Nghiên cứu các lĩnh vực có liên quan như: Mỹ học âm nhạc, Âm luật học, Nhạc khí học.

Nghiên cứu đặc điểm tư liệu vật chất của âm nhạc phải nghiên cứu cả Âm thanh học, Âm luật học, Nhạc cụ học…. Nghiên cứu hình thái âm nhạc và các bộ phận cấu thành, phải nghiên cứu các Lý luận kỹ thuật sáng tác như giai điệu, hòa âm, đối vị (phức điệu), phương pháp luận nghiên cứu âm nhạc. Ngoài ra còn có những nghiên cứu từ lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, Lý luận biểu diễn, Phương pháp chỉ huy[4].

Cũng vào năm 1997, Trong cuốn “Nhập môn Âm nhạc học” của tác giả Du Nhân Hào do nhà xuất bản Âm nhạc nhân dân phát hành, có viết: Đối tượng nghiên cứu của Âm nhạc học là những gì có liên quan đến âm nhạc, bao gồm toàn bộ các tác phẩm âm nhạc trước đây và hiện nay cùng các hoạt động âm nhạc khác[5].

Cùng năm 1989, trong mục “Âm nhạc học” của cuốn “Từ điển bách khoa âm nhạc” do Hà Càn Tam biên soạn, có viết: Âm nhạc học là các lý luận đã có được từ việc nghiên cứu nghệ thuật âm nhạc. Phạm vi nghiên cứu của âm nhạc học vô cùng rộng lớn - đề cập đến mọi hiện tượng âm nhạc trong xã hội loài người. Âm nhạc học không chỉ nghiên cứu bản thân các tác phẩm âm nhạc mà còn phải cân nhắc đến mối quan hệ giữa âm nhạc và những yếu tố có liên quan. Như vậy, Âm nhạc học là môn khoa học yêu cầu chúng ta cần nghiên cứu từ mọi góc độ như vật lý học, tâm lý học, mỹ học, xã hội học, lịch sử học, dân tộc học[6].

Nhìn lại những đối tượng và phạm vi nghiên cứu khoa học Âm nhạc học đã được đề cập trên cho thấy: mỗi thời kì, mỗi nhà nghiên cứu đều có những lý giải của riêng mình, trong đó vừa thể hiện dấu ấn thời đại vừa đánh dấu sự phát triển của khoa học. Ví dụ: quan điểm của Helm Holtz vào những năm 60 của thế kỉ XIX là lấy những thành quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ làm nền tảng để phản ánh giới học thuật. Quan điểm này xuất phát từ các thành tựu đạt được trong khoa học tự nhiên, hi vọng cũng có thể vận dụng được phương pháp thực tiễn để tiến hành các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học nhân văn. Thậm chí cũng đã xuất hiện quan điểm của Chrysander như sau: “Âm nhạc học nên có mối liên hệ với ‘khoa học thực tiễn’ đương thời có xu hướng phát triển, cần phải trở thành một ngành khoa học được tôn trọng, có ý nghĩa”. Còn trong “Tân từ điển âm nhạc Grove và nhạc sĩ” thì đối tượng nghiên cứu khoa học âm nhạc được sự mở rộng trong phạm vi nghiên cứu âm nhạc của thời đại, bao gồm nghiên cứu những hiện tượng vật lý, tâm lý, mỹ học, văn hóa, mặt khác tiến hành nghiên cứu những giới hạn trong nghệ thuật âm nhạc và bản thể âm nhạc nhưng không thích hợp với phương pháp nghiên cứu nhân loại học và dân tộc học.

Nhiệm vụ của Âm nhạc học

Nhiệm vụ của Âm nhạc học là khai thác, thu thập, bảo tồn, chỉnh lý và nghiên cứu những gì có liên quan đến âm nhạc, để trả lời câu hỏi “Âm nhạc là gì?”. Thứ tiếp là những hành vi âm nhạc (gồm hoạt động sinh lý, hoạt động thẩm mỹ, hoạt động sáng tạo, hoạt động biểu diễn và tiếp nhận hành vi) của các dân tộc, quốc gia cũng như cá nhân trước đây và hiện nay…

Âm nhạc học cần phải thông qua việc nghiên cứu những hành vi âm nhạc của bản thân con người (cá nhân và cộng đồng) để giải thích nguyên nhân vì sao những sản phẩm âm nhạc ra đời? và trả lời cho câu hỏi “Vì sao âm nhạc này lại như thế này chứ không phải thế kia?”.

Tính chất khoa học

Về tính chất khoa học, hệ thống học thuật phương Tây thường coi Âm nhạc học là một bộ phận của khoa học nhân văn. Vì mục đích quan trọng của Âm nhạc học là nghiên cứu ÂM NHẠC - một hoạt động tâm lý của con người. Nhưng khi đề cập đến các phân ngành khoa học của Âm nhạc học lại gặp phải vấn đề thuộc tính “song tầng” hoặc “đa tầng”. Ví dụ: Thanh nhạc học là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Vật lý học; Nhạc luật học là sự kết hợp giữa Âm nhạc học, Toán học và Vật lý học; Âm nhạc học sinh lý là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Sinh lý học; Âm nhạc công nghệ là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Khoa học công nghệ; Âm nhạc trị liệu là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Y học… Tất cả những phân ngành khoa học kể trên hầu hết đều là những nghiên cứu về mối tương quan giữa Âm nhạc học và lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Tiếp đó, Âm nhạc học xã hội là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Xã hội học; Âm nhạc học quản lý là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Quản lý học; Âm nhạc học giáo dục là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Giáo dục học; Âm nhạc học Kinh tế là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Kinh tế học; Âm nhạc học Dân tộc là sự kết hợp giữa Âm nhạc học và Dân tộc học…. Những phân ngành khoa học này đều là những nghiên cứu về mối tương quan giữa Âm nhạc học và các lĩnh vực khoa học xã hội.

Triết học âm nhạc là những nghiên cứu về bản chất, chức năng và giá trị âm nhạc; Âm nhạc học lịch sử là những nghiên cứu về quy luật phát triển lịch sử của âm nhạc; Âm nhạc hình thái, Âm nhạc học sáng tác, Âm nhạc học nghệ thuật biểu diễn, Âm nhạc học phê bình … đều là những nghiên cứu về vấn đề âm nhạc thể hiện tinh thần, tình cảm của con người như thế nào? nói chung những nghiên cứu này đều là nghiên cứu về tính chất khoa học nhân văn của âm nhạc.

Âm nhạc học thuộc về một ngành khoa học tổng hợp có trọng tâm là khoa học nhân văn. Mặc dù những nghiên cứu Âm nhạc học đều có liên quan đến lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhưng vẫn thể hiện bản chất: âm nhạc là biểu hiện tinh thần nhân văn. Từ những yếu tố trên, chúng tôi cho rằng: Âm nhạc học thuộc một ngành khoa học của phạm trù khoa học nhân văn.

Nhân vật tiêu biểu của Âm nhạc học phương Tây

Ở phương Tây, thuật ngữ Âm nhạc học (Musikwiseeschatft/ Musicology) đã được sử dụng từ thế kỉ 18, tuy nhiên muốn tìm hiểu sâu hơn về lịch sử và đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này chúng ta cần quay ngược về với thời kì Hi Lạp cổ đại.

Có thể nói nhà tư tưởng, nhà toán học vĩ đại Pythagoras (580 - 500 TCN)[7] là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu âm hưởng học, là ông tổ của lĩnh vực nghiên cứu triết học âm nhạc. Pythagoras còn đưa ra suy đoán về sự hòa hợp giữa con số và quãng, suy diễn ra giả thuyết “lý luận hài hòa thiên thể”, ông dự định lấy giả thuyết này để chứng minh mối quan hệ giữa âm nhạc và sự chuyển động của các vì sao trên vũ trụ, từ đó chứng minh bản chất của thế giới.

Nhà lý luận âm nhạc Aristoxenos[8] (TK IV TCN) lại phản đối chủ trương: dựa vào số học để giải thích âm nhạc của Pythagoras. Trong cuốn “Hòa hợp luận” của mình ông đã đưa ra quan điểm “Lý luận tinh thần” như sau: âm nhạc là môn nghệ thuật chứa đựng tình cảm, âm nhạc có hòa hợp với con người hay không là do khả năng và thói quen cảm thụ âm nhạc của mỗi người, do chủ quan từng người suy xét. Một số triết học gia như Aristotle, Plato… đã đưa ra “lý luận mỹ học và giáo dục”, xuất phát từ đạo đức nghề giáo của mỗi quốc gia để trình bày và phân tích chức năng xã hội của âm nhạc.

                                                                                                                          Tiến sỹ NGUYỄN THANH HÀ

Tài liệu tham khảo

  1. Benjamin Steege, (2012), “Helmhotz and the Modern listener”, Columbia Universtity, New York.
  2. Bojan Bujic, (1988), “Music in European Thought 1851 – 1912”, Cambridge University Press.
  3. Wilkerson, (2012), “Harmony Explained: Progress Towards A Scientific Theory of Music”,   Arxiv 2012.
  4. Walter B. Hewlett & Eleanor Selfridge-Field (2006), “Music Analysis East and West”, The MIT Press.
  5. McCollum, Jonathan and Hebert, David, Eds, (2014), “Theory and Method in Historical Ethnomusicology”, Lanham, MD: Rowman&Littlefield.
  6. Beard, David; Kenneth Gloag, (2005), Musicology: the key concepts. Routledge.
  7. Ivo Supicic, (1987), “MUSIC IN SOCIETY A Guide to the Sociology of Music”, Pendragon Press New York.
  8. Marques, Janet and Pedro J. Moreno, (1999), “A Study of Musical Instrument Classification Using Gaussian Mixture Models and Support Vector Machines”, Cambridge Research Laboratory.
  9. Uỷ ban biên tập (1989), “Vũ điệu âm nhạc”, nhà xuất bản Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc
  10. Du Nhân Hào (1997): “Khái luận về Âm nhạc học”, Nhà xuất bản âm nhạc nhân dân.

 

 


[1]Aristoxenus sinh ra tại Tarentum (La Mã cổ đại), là con trai của nhà âm nhạc học Spintharus và là học trò của Aritotle.

[2]. Họ không chỉ là những nhạc sỹ, những nhà khoa học mà còn có cả những nhà thám hiểm, các Đạo sĩ truyền giáo…

[3]. J. B. Du Halde: Description de L’Empire  de la Chine (Paris,1735);

J. M. Amiot: Mémoire sur la musique des chinois tant anciens que moderns (Paris, 1779/R1973);

W. Jones: ‘On the Musical Model of the Hindoos’ , Asiatick Reseaches, iii(1972), 55-87; repr. In S. M. Tagore: Hindu Music From Various Authors (Calcutta, 1875, 2/1882, in 2 prs. , 3/1965);

G. –A. Villoteau: ‘De I’ étal actuel de I’art musical en Egypte’ and ‘Description Historique, technique et littéraire des instrumens de musique de orientaux’. Description de L’Egypte: état modern, I, ed. E. P. Jomard (Paris, 1809), 607-845, 846-1016;

R. G. Kiesewetter: Die Musik der Araber (Leipzip, 1842).

F. T. Piggot: The Music and Musical Instruments of Japan (London, 1893).

C. R. Day: The Music and Musical Instruments of Sounthern India and the Deccan (London and New York, 1891/R1974)

[4] Uỷ ban biên tập “Vũ điệu âm nhạc” Ủy ban tổng biên tập Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, phòng biên tập nhà xuất bản Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc “Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc – cuốn vũ điệu âm nhạc”, Nhà xuất bản Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, năm 1989, trang 817, 818.

[5] Du Nhân Hào: “Khái luận về Âm nhạc học”, Nhà xuất bản âm nhạc nhân dân, năm 1997, Trang 7.

[6] Mậu Thiên Thụy chủ biên: “ Từ điển bách khoa âm nhạc”, nhà xuất bản âm nhạc nhân dân, năm 1998, trang 713.

[7] Nhà toán học vĩ đại Pythagoras (Pi-ta-go) (580 – 500 TCN) là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu âm hưởng học。

[8] Aristoxenus sinh ra tại Tarentum (La mã cổ đại), là con trai của nhà Âm nhạc học Spintharus, và là học trò của Aritotle.