Tin tức - Sự kiện

ĐÀO TẠO NGÀNH VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH NĂM HỌC 2020-2021, NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ

21 Tháng Mười Hai 2021          989 lượt xem

I. Những kết quả đạt được

1.1. Công tác tuyển sinh

Do tác động của đại dịch Covid-19, nhiều địa phương trong cả nước phải thực hiện giãn cách xã hội đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch tuyển sinh năm học 2021-2022. Hầu hết các cơ sở đào tạo phải thay đổi phương án và thời gian tuyển sinh, kết hợp song song cả trực tiếp và trực tuyến hoặc chuyển từ hình thức tuyển sinh trực tiếp sang hình thức trực tuyến. Thời gian tuyển sinh được chia làm nhiều đợt trong năm.

Các cơ sở đào tạo đại học đều xây dựng và công bố Đề án tuyển sinh năm học 2021-2022, tổ chức kỳ thi tuyển sinh thành công, đảm bảo công khai, minh bạch và theo đúng quy định hiện hành, các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và xã hội. Về cơ bản, công tác tuyển sinh năm học 2021-2022 của các cơ sở đào tạo giữ ổn định.

Năm học 2021-2022, tổng chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở đào tạo là: 12.249; quy mô đào tạo là 25.716 học sinh, sinh viên. Trong đó, lĩnh vực Văn hóa nghệ thuật là 10.899 học sinh, sinh viên; Thể dục thể thao là 5.234 học sinh, sinh viên; Du lịch là 9.583 học sinh, sinh viên. Theo trình độ đào tạo: Tiến sĩ 154; Thạc sĩ 873; Đại học 13.186; Cao đẳng 6.758; Trung cấp 3.203; Sơ cấp 1.542.

1.2. Công tác đào tạo

Năm học 2020-2021 được thực hiện trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 nên việc triển khai kế hoạch, nhiệm vụ năm học của các cơ sở đào tạo gặp rất nhiều khó khăn. Để đảm bảo tiến độ năm học, cũng như không làm gián đoạn quá trình đào tạo, các trường đã linh hoạt chuyển đổi từ hình thức dạy tập trung, trực tiếp sang hình thức trực tuyến đối với các môn học và nội dung phù hợp. Các cơ sở đào tạo đã chủ động thích ứng, xây dựng kế hoạch đào tạo năm học 2020-2021 theo hướng tập trung đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động dạy và học, phù hợp với diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh Covid-19. 

Triển khai thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của các địa phương, doanh nghiệp, góp phần kịp thời giải quyết tốt nguồn nhân lực cho các dự án mới, đồng thời mang lại nguồn thu, tăng cường cơ sở vật chất, cải thiện thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của nhà trường.

Việc tổ chức thực tập tốt nghiệp, tổ chức thi và xét tốt nghiệp được triển khai thích ứng với điều kiện dịch bệnh, đúng kế hoạch và đảm bảo các quy định hiện hành. Tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng chuẩn đầu ra của các ngành, các trình độ đào tạo.

1.3. Công tác quản lý học sinh, sinh viên

Các cơ sở đào tạo đã chủ động xây dựng chương trình, nội dung công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên theo hình thức trực tuyến như: Tổ chức tuần sinh hoạt công dân cho học sinh, sinh viên năm thứ nhất; Tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh, sinh viên theo chuyên đề: Giáo dục pháp luật; Giáo dục phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm; Giáo dục truyền thống, đạo đức nghề nghiệp; Giáo dục an toàn giao thông; Tư vấn hướng nghiệp và các vấn đề xã hội; Phong trào học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng …

1.4. Công tác xây dựng chương trình, giáo trình

Với mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và thích ứng với nhu cầu xã hội hiện nay, các cơ sở đào tạo chủ động triển khai xây dựng, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chương trình, giáo trình theo hướng tiếp cận năng lực. Nhiều chương trình, giáo trình được xây dựng mới, chuẩn hóa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, ứng nhu cầu xã hội. Một số cơ sở đào tạo có cùng nhóm ngành đã chủ động phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác biên soạn và sử dụng giáo trình dùng chung.

Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng thiếu giáo trình hoặc giáo trình chưa hoàn chỉnh ở một số ngành đào tạo; chương trình đào tạo chưa phát triển kịp sự thay đổi liên tục về nhu cầu và yêu cầu của xã hội; chuẩn đầu ra công bố chưa gắn với chương trình đào tạo, mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức đào tạo và phương thức đánh giá kết quả học tập của người học. Đồng thời, chưa phát huy được vai trò của Hội đồng khoa học và đào tạo trong xây dựng, thẩm định chương trình đào tạo và giáo trình phục vụ đào tạo.

1.5. Công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

Trong năm học 2020-2021, các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ đã triển khai 253 đề tài nghiên cứu, trong đó có 37 đề tài khoa học cấp Bộ, 216 đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở. Nhiều hội thảo khoa học chuyên ngành đã được tổ chức, tạo ra nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy cho cán bộ, giảng viên.

Các cơ sở đào tạo đã chủ động thiết lập và mở rộng các quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế trong đào tạo đối với các trường có uy tín ở nước ngoài, như: Trao đổi kinh nghiệm trong công tác đào tạo, thiết kế chương trình, biên soạn giáo trình; trao đổi giảng viên và học sinh, sinh viên; mời chuyên gia vào giảng dạy; phối hợp tổ chức triển lãm mỹ thuật, trình chiếu tác phẩm hội họa; giao lưu văn hóa giảng viên, sinh viên; phối hợp tổ chức hội thảo khoa học quốc tế…

1.6. Công tác kiểm định chất lượng giáo dục

Phần lớn các cơ sở đào tạo đã chú trọng đến công tác triển khai tự đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và đánh giá ngoài để được công nhận đạt chuẩn chất lượng giáo dục, được cấp giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục. Hầu hết các cơ sở đào tạo đã kiện toàn bộ phận Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục trong cơ cấu tổ chức của nhà trường theo quy định.

Ngoài việc áp dụng tiêu chuẩn ISO trong quản lý đào tạo, nhiều cơ sở đào tạo đã triển khai thực hiện chỉ đạo của Bộ ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện kiểm định đánh giá ngoài theo quy định. Năm học 2020-2021, có 01 cơ sở đào tạo đạt chất lượng kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp (Trường Cao đẳng du lịch Đà Nẵng) và 02 trường đại học được cấp giấy chứng nhận giáo dục đại học (Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng).

II. Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

2.1. Những khó khăn, vướng mắc

2.1.1. Cơ chế, chính sách về giáo dục đào tạo

Các quy định của pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo các trình độ của giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học có những nội dung chưa rõ về tính đặc thù, nhiều quy định chưa phù hợp với tính đặc thù đào tạo lĩnh vực nghệ thuật, đã gây nên những vướng mắc, tạo ra các điểm nghẽn, nút thắt trong đào tạo văn hóa nghệ thuật, cụ thể: Thời gian đào tạo, độ tuổi đào tạo, đào tạo lồng ghép các trình độ đào tạo trong trường đại học, vấn đề giáo dục kiến thức phổ thông kết hợp với đào tạo chuyên môn trong các trường nghệ thuật… Đồng thời, công tác quản lý đào tạo của các cơ sở đào tạo chưa phù hợp, còn có một số cơ sở đào tạo chưa thực hiện tốt các quy định, quy chế liên quan đến đào tạo.

2.1.2. Công tác tuyển sinh

Công tác tuyển sinh năm học 2021-2022 ở một số trường, một số ngành/chuyên ngành còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, do nhu cầu xã hội và những thay đổi trong lựa chọn nghề nghiệp của thế hệ trẻ.

Đối với các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật, hiện tượng sụt giảm số lượng thí sinh dự thi đã diễn ra trong nhiều năm trở lại đây, trong đó một số ngành học không thể tuyển sinh như: Lý luận, lịch sử và phê bình Điện ảnh, Truyền hình; Lý luận, lịch sử và phê bình Sân khấu; Lý luận, lịch sử và phê bình Mỹ thuật; Diễn viên sân khấu kịch hát; Đạo diễn sân khấu… Sự thiếu hụt nguồn tuyển đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt đầu vào chất lượng cao, có năng khiếu thực sự. Một số cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp gặp khó khăn trong cạnh tranh về nguồn tuyển với các cơ sở đào tạo trình độ cao hơn, thí sinh dự thi chủ yếu là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhiều thí sinh trúng tuyển không nhập học hoặc nhập học một thời gian lại bỏ về vì không đủ điều kiện để học tập.

Đối với các cơ sở đào tạo thể dục thể thao, nhu cầu về xác định nghề nghiệp và cơ hội việc làm của sinh viên sau khi ra trường đã tác động khá lớn đến công tác tuyển sinh của nhà trường. Nguồn tuyển sinh ngày càng hạn hẹp, dẫn đến việc lựa chọn thí sinh trúng tuyển khối năng khiếu ngày càng khó khăn. Bên cạnh đó, việc phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh đối với khối ngành đào tạo giáo viên trong 02 năm gần đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Giáo dục thể chất; Huấn luyện thể thao) thấp hơn rất nhiều so với năng lực đào tạo thực tế của các trường.

Các cơ sở đào tạo du lịch phải đối diện sự cạnh tranh rất lớn về nguồn tuyển đối với các trường đại học khác trong cùng khu vực. Đặc biệt, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến nhận thức và quyết định lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, gây khó khăn cho công tác tuyển sinh tại các vùng có dịch.

2.1.3. Công tác tổ chức đào tạo

Để phục vụ cho yêu cầu dạy trực tuyến, hầu hết các cơ sở đào tạo đã phải chi thêm một khoản kinh phí đột xuất ngoài kế hoạch cho việc đầu tư, mua sắm trang thiết bị, phần mềm… phục vụ dạy và học trực tuyến, mua vật tư phòng, chống dịch bệnh. Tuy nhiên, đường truyền yếu, không ổn định, không đủ trang thiết bị dạy và học các môn thực hành nên ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Đặc biệt, với một số ngành đào tạo năng khiếu đặc thù thì việc học trực tuyến các môn chuyên ngành gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả khó đạt như mong muốn. Bên cạnh đó, nhiều học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, không có máy vi tính, điện thoại thông minh, đường truyền mạng ổn định… để học tập trực tuyến. Lịch thi học kỳ, thi tốt nghiệp một số chuyên ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật Múa, Xiếc cũng bị trì hoãn do phải thực hiện giãn cách xã hội.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh nên việc tổ chức đi thực tập, thực tế của học sinh, sinh viên tại các doanh nghiệp du lịch gặp nhiều khó khăn. Hầu hết các doanh nghiệp du lịch phải đóng cửa, không đón khách hoặc chỉ duy trì ở mức tối thiểu nên hạn chế nhu cầu tiếp nhận học sinh, sinh viên thực tập và giải quyết việc làm.

Việc biên soạn chương trình đào tạo, đối với các cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp thuộc lĩnh vực nghệ thuật gặp khó khăn khi áp dụng Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, vì tính chất đặc thù trong đào tạo nghệ thuật không phù hợp với một số quy định tại Thông tư này.

Thực hiện Luật Giáo dục năm 2019 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc giảng dạy văn hóa phổ thông cấp THCS và THPT, một số cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật gặp rất nhiều khó khăn khi phải phối hợp với các trung tâm GDTX để tổ chức giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông. Cụ thể, đó là sự bất cập về thời gian tổ chức tuyển sinh giữa các trung tâm GDTX và các cơ sở đào tạo nghệ thuật; mất tính chủ động trong việc xây dựng kế hoạch tuyển sinh và đào tạo phù hợp với các ngành năng khiếu nghệ thuật đặc thù; việc phát sinh thêm kinh phí đối với học sinh ngoài các khoản kinh phí các nhà trường đã thông báo trong thông báo tuyển sinh…

2.2. Nguyên nhân

- Dịch bệnh Covid-19 đã có có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của các cơ sở đào tạo trong năm học 2020-2021, đặc biệt là công tác đào tạo.

- Tỷ lệ học sinh theo học năng khiếu nghệ thuật, thể thao ngày càng giảm, nhiều học sinh thực sự có năng khiếu nhưng không lựa chọn theo học nghệ thuật và thể dục thể thao; nhiều cơ sở đào tạo nghề du lịch phát triển mạnh trên cả nước, tuy tăng về quy mô đào tạo, nhưng chất lượng dạy nghề không đảm bảo, quản lý hoạt động dạy nghề của các cơ sở gặp khó khăn, cạnh tranh không lành mạnh.

- Một số cơ sở đào tạo chưa chú trọng xây dựng kế hoạch dài hạn phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý, công tác quy hoạch và bồi dưỡng cán bộ kế cận chưa được quan tâm kịp thời, dẫn đến sự hụt hẫng về đội ngũ giảng viên, giáo viên. Tỷ lệ giảng viên, giáo viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có trình độ tiến sĩ, thạc sỹ của một số cơ sở đào tạo còn thấp so với yêu cầu và chưa có cơ chế thu hút các chuyên gia, nhà khoa học có tŕnh độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm đã nghỉ hưu tham gia vào công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Chưa có chế độ, chính sách phù hợp để khuyến khích đội ngũ giáo viên, giảng viên trẻ nâng cao trình độ.

- Chương trình đào tạo chậm đổi mới, nặng về lý thuyết; nhiều giáo trình chưa được cập nhật, hoàn chỉnh hoặc không còn phù hợp.

- Công tác đổi mới phương pháp dạy và học của các cơ sở đào tạo đã được triển khai song hiệu quả chưa cao; chế độ chính sách đối với giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên chưa hợp lý, đặc biệt đối với các ngành năng khiếu nghệ thuật.

- Công tác khảo thí, kiểm định chất lượng của các cơ sở đào tạo còn hạn chế do đặc thù của ngành, nghề đào tạo, việc đảm bảo tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ thực hiện công tác kiểm định chất lượng phần lớn chưa được đào tạo bài bản, chính quy nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai các hoạt động. Kinh phí còn hạn chế, chủ yếu được lấy từ nguồn thu hợp pháp của các trường và chưa có hỗ trợ từ bên ngoài.

- Chưa có sự gắn kết và mối quan hệ thường xuyên, chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng nhân lực. Chưa thu hút được các tổ chức sử dụng nhân lực, trước hết và đặc biệt là các doanh nghiệp vào quá trình đào tạo nhân lực từ khâu tham gia hoạch định chính sách cho đến trực tiếp đào tạo và đóng góp, trợ giúp kinh phí, nơi thực tập, kiến tập cho đào tạo nhân lực.

- Hoạt động hợp tác quốc tế của các cơ sở đào tạo gặp nhiều khó khăn khi các chuyến thăm, làm việc của đối tác nước ngoài buộc phải trì hoãn do ảnh hưởng của dịch. Để duy trì hoạt động này, các cơ sở đào tạo đã liên lạc với đối tác và triển khai làm việc, trao đổi bằng hình thức trực tuyến.

Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch năm học 2020-2021 đã khắc phục những khó khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra, có đóng góp quan trọng cho sự phát triển ngành văn hóa, thể thao và du lịch./.

 

 

 

Tài liệu tham khảo

1) Thông tư số 05/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định quy chế tuyển sinh và xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ trung cấp, cao đẳng;

2) Thông tư số 07/2019/TT-BLĐTBXH ngày 07 tháng 3 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định quy chế tuyển sinh và xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ trung cấp, cao đẳng.

3) Quy chế tuyển sinh trình độ đại học, tuyển sinh trình độ cao đẳng ngành giáo dục mầm non Ban hành theoThông tư số: 09/2020/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

4) Quy chế đào tạo trình độ Thạc sĩ ban hành theo Thông tư số 15/2014/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

5) Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ Tiến sĩ ban hành theo Thông tư số 08/2017/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ Tiến sĩ ban hành theo Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

TS.Phạm Việt Hà