Tin tức - Sự kiện

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC- YẾU TỐ THEN CHỐT ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

18 Tháng Giêng 2017          1934 lượt xem

1. Đặt vấn đề

Vấn đề phát triển nhân lực, đặc biệt nhân lực có chất lượng cao đang là thách thức đối với du lịch Việt Nam trước yêu cầu của tình hình mới. Đây cũng là vấn đề đặt ra trong việc xây dựng thương hiệu sản phẩm du lịch Việt Nam một cách bền vững. Trong khuôn khổ diễn đàn ATF, so với các nước trong khu vực, thì chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam nói chung và tại các trung tâm du lịch lớn vẫn còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó, theo ý kiến chung của nhiều chuyên gia là do nhân lực du lịch của chúng ta hiện nay vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, do đó dẫn đến chất lượng phục vụ du lịch của nước ta còn thấp. Để tạo ra sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh cao thì chất lượng của nguồn nhân lực du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng. Chỉ có chiến lược phát triển nguồn nhân lực được quan tâm đúng mức và hợp lý mới duy trì được thương hiệu và chất lượng phục vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đặc biệt trong bối cảnh thỏa thuận MRA-TP cho phép dịch chuyển lao động trong ngành du lịch thuộc khối ASEAN. Một người lao động tại Việt Nam có thể làm việc tại các nước thành viên ASEAN, trong khi đó, Việt Nam cũng có thể thu hút các lao động có trình độ để đáp ứng được các vị trí đòi hỏi trình độ cao đang bị thiếu hụt nhân lực.

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định/then chốt của mọi hoạt động - Điều mang tính “chân lý” này thường được nhắc đến, được khẳng định ở mọi bình diện từ một tổ chức nhỏ đến quốc gia lớn, từ một khu vực đến toàn cầu. Nhưng không phải ở đâu, bất cứ ai và khi nào cũng nhận thức đầy đủ về tính quyết định của nguồn nhân lực và giành nguồn lực cho việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, do nguồn lực không có nhiều lại bị các nhiệm vụ cấp bách khác chi phối. Hiện tượng phổ biến trong các tổ chức khi phân bổ nguồn lực thường bao giờ cũng ưu tiên cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và chi thường xuyên, còn nguồn lực cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực thường chịu số phận xếp vào hàng thứ yếu. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng không nằm ngoài tình trạng như vậy. Những bất cập và nghịch lý nêu trên cũng đang tồn tại một cách phổ biến trong lĩnh vực này ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

2. Tổng quan vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long của nước ta cũng còn được gọi là vùng đồng bằng Nam Bộ (hay miền Tây Nam Bộ) gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương (Thành phố Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long). Trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế-xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nội dung chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phát triển kinh tế xã hội đóng vai trò quan trọng, trong đó việc khai thác các tiềm năng và lợi thế của vùng để phát triển du lịch được đặc biệt chú ý. Phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long gắn chặt với phát triển du lịch ở vùng ven biển, các hải đảo lân cận của Vùng. Trong Chiến lược phát triển du lịch và Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Đồng bằng sông Cửu Long được xác định là một trong 7 vùng du lịch của đất nước gắn với du lịch Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng.

Bên cạnh các điều kiện thuận lợi về vị trí địa kinh tế, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn có một nguồn lực vô giá là dân số. Trong không gian lãnh thổ vùng Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 40.602,3 km2 có 17.695.300 người sinh sống, chiếm 20,5% dân số cả n­ước, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng gần 50%, đặc biệt là cư­ dân ở độ tuổi d­ưới 40 chiếm tới hơn 80%, với những phẩm chất như tinh thần tự chủ, giao lưu cởi mở, nhạy bén với cái mới, dũng cảm và sáng tạo. Đây là “nguyên liệu” tạo ra nguồn nhân lực, yếu tố quyết định/then chốt cho sự phát cho mọi hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có hoạt động du lịch.

3. Thực trạng nguồn nhân lực vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Lực lượng lao động trong ngành Du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian gần đây cũng tăng đáng kể và chiếm tỷ trọng khá lớn trong lực lượng lao động của khu vực. Theo báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương trong vùng, năm 2010 lực lượng lao động trực tiếp trong ngành Du lịch là 12.822 người, đến cuối năm 2013 là 24.969 người. Như vậy, từ năm 2010 đến năm 2013 nhân lực du lịch trực tiếp của toàn vùng tăng khoảng 1,95 lần. Nếu tính năm năm vừa qua (từ 2010-2015), nhân lực du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng khoảng 2,76 lần. Nguyên nhân chính là do vùng Đồng bằng sông Cửu Long là điểm du lịch mới, ngành Du lịch ở đây cũng còn non trẻ so với các ngành kinh tế khác như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn và so với ngành Du lịch các nơi khác, ngành Du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long mới đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển (Xem chi tiết tại Phụ lục 2).

Qua khảo sát, đánh giá tại Quy hoạch “Phát triển nhân lực ngành du lịch 2011-2020”, nhận thấy nguồn nhân lực du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn thiếu về số lượng; cơ cấu theo ngành nghề chưa hợp lý; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc ngày càng sâu và rộng. Đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về du lịch còn thiếu và yếu, cán bộ chuyên trách làm công tác du lịch ở quận, huyện không nhiều, có huyện chưa có. Cán bộ quản trị kinh doanh du lịch chưa được đào tạo chuyên sâu, số giám đốc doanh nghiệp tư nhân đã qua đại học hầu hết được đào tạo các chuyên ngành không liên quan trực tiếp đến du lịch. Trừ số người làm việc ở những cơ sở du lịch liên doanh và một số doanh nghiệp du lịch lớn, đội ngũ nhân viên nghiệp vụ du lịch của các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long thiếu còn tính chuyên nghiệp, kỹ năng nghề chưa thuần thục, sử dụng được ngoại ngữ và tin học phục vụ được yêu cầu công việc không nhiều. Chất lượng nhân lực du lịch trực tiếp tại Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ và Cà Mau tuy cao hơn so với các địa phương khác, nhưng cũng chưa đảm bảo về chất lượng. Gần một nửa số lao động được đào tạo về du lịch, nhưng phần lớn chỉ qua các khóa học “cấp tốc” ngắn hạn là 1 tháng, dài nhất cũng chỉ đến 1 năm, nên kỹ năng nghề nói chung còn thấp. Số lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động đã qua đào tạo, nhưng rất ít người được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch, chủ yếu là từ các ngành khác như ngoại ngữ, khoa học xã hội và tự nhiên.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên của nhân lực du lịch trực tiếp toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tuy có khác nhau ở mỗi địa phương, nhưng nổi lên vẫn là: 1) Đội ngũ lao động đang làm việc chưa được đào tạo lại và chưa được bồi dưỡng cập nhật kiến thức thường xuyên, lại ngại học, có nơi chưa quan tâm thích đáng đến công tác bồi dưỡng, chưa tạo điều kiện cho nhân lực du lịch đi học, chưa có cơ chế thỏa đáng để khuyến khích nhân viên học thêm nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học. 2) Khi tuyển chọn nhân viên, các doanh nghiệp chưa chú trọng đến yêu cầu đòi hỏi nhân lực du lịch phải có kiến thức, có trình độ tin học, ngoại ngữ, tinh thông nghiệp vụ và phải là con người có văn hoá. 3) Cũng như các địa phương khác trong cả nước, những doanh nghiệp, cơ sở du lịch nhỏ, như khách sạn, nhà hàng nhỏ trên địa bàn 12 tỉnh và Thành phố Cần Thơ muốn tiết kiệm chi phí nhân công nên chủ yếu thuê lao động phổ thông chưa qua đào tạo vì số lao động này chấp nhận mức tiền công thấp. 4) Việc cung ứng nguồn nhân lực được đào tạo không đủ, không đáp ứng số lượng theo yêu cầu dịch vụ, ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ.

4. Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua

Mấy năm gần đây, do tốc độ tăng trưởng du lịch cao (thể hiện ở các chỉ tiêu số lượt khách quốc tế và nội địa, doanh thu, cơ sở vật chất kỹ thuật...), công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch đã được tất cả các địa phương quan tâm, cả trong đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng, nhưng chưa theo kịp nhu cầu phát triển và gặp rất nhiều khó khăn. Thời gian qua, các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thông qua hình thức đào tạo tại chỗ mời giáo viên, liên kết với các cơ sở đào tạo hoặc tự tổ chức đào tạo tại cơ sở kinh doanh du lịch và tại các trung tâm dạy nghề của một số địa phương, trước mắt đáp ứng được một phần nhu cầu đào tạo tay nghề ở trình độ sơ cấp cho nhân viên phục vụ. Một số địa phương đã liên kết phối hợp với các trường du lịch tổ chức đào tạo chính quy tại Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Bến Tre; đồng thời đào tạo ngắn hạn thích ứng với hoạt động du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng ở các địa phương như đào tạo đội ngũ thuyết minh du lịch ở Phú Quốc (Kiên Giang), Hòn Khoai, Năm Căn (Cà Mau), Thới Sơn (Tiền Giang)... Bên cạnh đó, nhiều khóa quản lý doanh nghiệp nhỏ và kinh tế gia đình cho chủ doanh nghiệp, chủ hộ có tham gia kinh doanh du lịch tại nhiều địa phương trong vùng được tổ chức. Việc đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước về du lịch được triển khai thông qua các khoá đào tạo ngắn hạn với sự hỗ trợ của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch do EU, Luxembourg tài trợ.

Đào tạo mới nguồn nhân lực du lịch được triển khai tại một số cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn và ở những vùng lân cận (Xem chi tiết tại Phụ lục 4). Hiện nay, tham gia đào tạo mới nhân lực du lịch cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long có các cơ sở đào tạo du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và một số cơ sở đào tạo du lịch các cấp trên địa bàn như Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ, Trường Trung học Văn hóa nghệ thuật Cần Thơ, Trường Văn hóa nghệ thuật Sóc Trăng, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Tây Đô, Trường Đại học Cửu Long, Trường Đại học Vĩnh Long, Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật Kiên Giang. Đặc biệt, Trường Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu đã liên kết với các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch (trước đây liên kết với các Sở Du lịch, Sở Thương mại-Du lịch trong vùng) tổ chức nhiều khóa học ngắn hạn tại chỗ đào tạo kỹ năng phục vụ du lịch, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và an ninh, an toàn trong phục vụ du lịch, hướng dẫn tổ chức các loại dịch vụ phù hợp với đặc điểm sản xuất, sinh hoạt của cư dân trên các cù lao, xóm ấp như giăng câu, giã bàng, chèo thuyền, làm hàng thủ công, cấy ghép cây ăn trái, trồng và chăm sóc cây cảnh tạo nên nét sinh động phù hợp với xu thể mới của du lịch là được khám phá, hòa nhập cộng đồng tại các địa điểm tham quan du lịch. Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ đã nâng dần năng lực đào tạo, triển khai đào tạo, nhưng do vẫn đang trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và chuẩn bị các điều kiện đào tạo khác, nên quy mô đào tạo vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân lực du lịch cho vùng.

Như vậy, có thể thấy rất rõ là cả 13 địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải nỗ lực cao độ hơn nữa trong phát triển nguồn nhân lực du lịch. Hội nhập quốc tế sâu và toàn diện đã và đang kéo theo sự thay đổi rất lớn từ phía cầu du lịch cả quy mô và chất lượng, nên cung du lịch của vùng, mà trước tiên là nhân lực du lịch, phải thay đổi để thích ứng. Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và hợp lý về cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực và địa phương đòi hỏi phải có sự nỗ lực không chỉ riêng của ngành Du lịch, mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, địa phương liên quan, đặc biệt là ngành Giáo dục và Đào tạo, ngành Lao động-Thương binh và Xã hội.

5. Quan điểm, mục tiêu, phương thức phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trước thực trạng nêu trên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần quán triệt 4 quan điểm chủ đạo trong phát triển nguồn nhân lực du lịch: 1) Phải huy động mọi nguồn lực ưu tiên đặc biệt cho phát triển nguồn nhân lực du lịch nhằm tạo ra một sự phát triển vượt bậc của nguồn nhân lực du lịch trong thời gian tới. Phát triển nguồn nhân lực du lịch sẽ là yếu tố quyết định đến sự nghiệp phát triển ngành Du lịch trong thời đại mới. 2) Phát triển nguồn nhân lực du lịch phải xuất phát từ công cuộc đổi mới, phát huy thành tựu của đổi mới, gắn với Chiến lược phát triển du lịch và Quy hoạch phát triển nhân lực du lịch của cả nước và từng địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phục vụ đắc lực cho việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 của mỗi địa phương và cả vùng, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế sâu và toàn diện. 3) Phát triển nguồn nhân lực du lịch là trách nhiệm của toàn xã hội. Nhà nước, nòng cốt là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Chính quyền của 13 địa phương trong vùng, có trách nhiệm quản lý và tạo điều kiện cho đào tạo và sử dụng hiệu quả nhân lực du lịch; cơ sở đào tạo du lịch phải có trách nhiệm cung cấp nhân lực đạt yêu cầu thị trường và doanh nghiệp du lịch phải sử dụng hợp lý và hiệu quả lao động du lịch, khuyến khích và chủ động tích cực tham gia vào quá trình phát triển nguồn nhân lực du lịch tại doanh nghiệp và mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch. Thúc đẩy xã hội hoá giáo dục-đào tạo và thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội, theo nhu cầu thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của người học, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, nhất là những người làm du lịch và có nhu cầu làm du lịch. 4) Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, phát triển nguồn nhân lực du lịch phải đáp ứng yêu cầu quốc tế, từng bước đạt những tiêu chuẩn chung và được thừa nhận trong khu vực và thế giới, tạo tiền đề cho tự do di chuyển lao động quốc tế. Do vậy, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch phải có chất lượng cao được khu vực và quốc tế công nhận rộng rãi. Vì vậy, đòi hỏi cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch trong vùng phải được đầu tư hiện đại tầm cỡ khu vực và quốc tế; hoạt động đào tạo du lịch vươn khỏi phạm vi mỗi địa phương, từng vùng và quốc gia.

Trong thời gian tới, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long là phải phấn đấu là xây dựng cho được đội ngũ nhân lực du lịch đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, đảm bảo về chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch nhanh và bền vững, đủ sức cạnh tranh, sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế chủ lực trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu và toàn diện với nền kinh tế thế giới thông qua đổi mới cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch, tăng cường năng lực cho hệ thống cơ sở đào tạo du lịch và thực hiện chương trình đào tạo lại và bồi dưỡng năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề cho những người làm du lịch.

Theo dự báo của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch), nhu cầu lao động về số lượng tại thời điểm năm 2020 của 13 địa phương trong Vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ là 207.900 người, trong đó 75.400 lao động trực tiếp trong du lịch và 132.500 lao động gián tiếp (Xem chi tiết tại Phụ lục 3). Về chất lượng, lao động du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải được trang bị đúng và đủ kiến thức, kỹ năng, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng giao tiếp; tinh thần thái độ phục vụ chu đáo tận tuỵ; có năng lực ngoại ngữ, tin học đảm bảo yêu cầu của từng nghiệp vụ cụ thể. Về cơ cấu lao động du lịch của mỗi địa phương trong vùng phải đảm bảo hợp lý giữa các trình độ đào tạo (trên đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp); giữa các loại công việc (quản lý, giám sát và lao động trực tiếp); giữa các chuyên ngành và lĩnh vực (khách sạn, nhà hàng, lữ hành, các dịch vụ khác); giữa các nghề (lễ tân, phục vụ buồng, chế biến món ăn, hướng dẫn viên du lịch, điều hành tour, nhân viên đại lý lữ hành, điều khiển phương tiện vận chuyển khách du lịch...); giữa các địa phương trong vùng.

Có nhiều phương thức mang tính chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng 12 tỉnh và Thành phố Cần Thơ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung vào 3 phương thức mang tính chiến lược chủ yếu: 1) Chiến lược ưu tiên, khuyến khích; 2) Chiến lược tạo và huy động nguồn lực; 3) Chiến lược liên kết, hợp tác và hội nhập quốc tế trong phát triển nhân lực của mỗi địa phương và cả vùng.

Phương thức mang tính chiến lược thứ nhất xuất phát từ điều kiện hiện nay của nước ta nói chung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, phát triển nguồn nhân lực du lịch đòi hỏi không chỉ đơn thuần là huy động nguồn lực tài chính, mà quan trọng hơn là nguồn kiến thức, kinh nghiệm, nhất là đội ngũ chuyên gia, giảng viên, giáo viên. Mặc dù có sự quan tâm của Nhà nước, sự hỗ trợ của quốc tế, song sự tiếp thu, truyền tải những kinh nghiệm, kiến thức vào các cơ sở đào tạo và cuối cùng đến người làm du lịch là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực du lịch là một hoạt động phải được ưu tiên, khuyến khích. Ưu tiên ngay trong việc hoạch định chính sách  phát  triển du lịch và do đó cũng phải ưu tiên trong việc phát triển nguồn nhân lực du lịch. Các lĩnh vực mà các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần ưu tiên trước hết là: 1) Phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành về từng lĩnh vực chuyên sâu của hoạt động du lịch; 2) Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch; 3) Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước, nhất là công chức cấp tỉnh và cấp huyện; và 4) Hoàn thiện cơ chế chính sách để khuyến khích xã hội hoá trong đào tạo du lịch.

Phương thức mang tính chiến lược thứ hai là huy động nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực du lịch. Phương thức này thực chất bắt nguồn từ quan điểm xã hội hóa giáo dục và đào tạo, cơ chế khuyến khích đào tạo du lịch đồng thời với chiến lược đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế trong du lịch. Một mặt xã hội hóa để thu hút các nguồn đầu tư của cá nhân, các thành phần xã hội tham gia đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch. Mặt khác thông qua hội nhập, hợp tác quốc tế sẽ huy động thêm các nguồn tài trợ bằng tiền, kiến thức, kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ áp dụng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực du lịch. Trong phương thức chiến lược thứ hai này không chỉ có Nhà nước mà cả cộng đồng, cá nhân, các thành phần kinh tế, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân nước ngoài đều có điều kiện thuận lợi và có nghĩa vụ tham gia vào quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Phương thức mang tính chiến lược thứ ba là liên kết, hợp tác và hội nhập quốc tế tạo sự liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa 3 nhà: Nhà nước - Nhà trường - Nhà sử dụng lao động trong quá trình phát triển nhân lực du lịch cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà nước tạo môi trường pháp lý, tạo chuẩn quốc gia về nhân lực làm cơ sở cho đào tạo và sử dụng lao động, thúc đẩy và kiểm tra, giám sát đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch. Các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch liên kết với nhau và với doanh nghiệp du lịch; các doanh nghiệp du lịch liên kết với nhau và với cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch để tạo nguồn lực cho nhau, để kiểm định đầu ra của cơ sở đạo tạo, dạy nghề du lịch, nâng cao và chuẩn hóa đầu vào cho cơ sở sử dụng lao động du lịch, điều chỉnh các hoạt động của từng đơn vị. Liên kết này sẽ bền vững nhờ việc quan tâm huy động nội lực để thực hiện; đồng thời chú trọng hợp tác và hội nhập quốc tế để có thêm nguồn tài chính, kiến thức, công nghệ, kinh nghiệm để phát triển nguồn nhân lực, trước tiên là phát triển đội ngũ chuyên gia, giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý nhà nước và kinh doanh. Vì vậy tăng cường chủ động hợp tác và hội nhập quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực du lịch phải rất được coi trọng. Đây sẽ là biện pháp mạnh, nhanh và hiệu quả trong việc tăng cường được đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ giảng viên, giáo viên tại các cơ sở đào tạo du lịch của các địa phương.

6. Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Có 4 vấn đề đặt ra được coi như 4 nhiệm vụ chủ yếu cần tiến hành để xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch của mỗi địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, gồm:

Thứ nhất, thống kê, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nhân lực du lịch, tập trung vào 3 nội dung: 1) Thống kê, phân tích, đánh giá hiện trạng nhân lực du lịch của địa phương về số lượng nhân lực; về chất lượng nhân lực và mức độ đáp ứng nhu cầu lao động thực tế (sử dụng tại địa phương, trong nước và yêu cầu làm việc ở nước ngoài, yêu cầu hội nhập quốc tế); và về cơ cấu nhân lực theo lĩnh vực, ngành nghề, độ tuổi, giới tính, công việc và tình hình đáp ứng yêu cầu phát triển theo vùng, miền… 2) Phân tích, đánh giá hiện trạng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch trong thời gian qua (chủ yếu là 5 năm gần đây), cả về quy mô, cơ cấu đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất-kỹ thuật; giảng viên, giáo viên; và chương trình, giáo trình phương pháp, chất lượng đào tạo và đầu tư phát triển đào tạo nhân lực. Nội dung đánh giá tập trung vào hiện trạng đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng đào tạo; hiện trạng đào tạo về cơ cấu ngành nghề; hiện trạng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực quản lý nhà nước và hoạch định chính sách; hiện trạng đào tạo nhân lực khoa học-công nghệ; hiện trạng đào tạo nhân lực quản trị kinh doanh (doanh nhân và chuyên gia quản trị doanh nghiệp). 3) Phân tích, đánh giá hiện trạng quản lý nhà nước trong phát triển nhân lực du lịch: Quy hoạch tổ chức hệ thống mạng lưới đào tạo, dạy nghề du lịch ở địa phương (tính hợp lý và những bất hợp lý trong tổ chức hệ thống đào tạo theo ngành, theo thành phần kinh tế, theo lãnh thổ, về các cấp đào tạo, quy mô, cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề đào tạo). Tình hình phân công, phân cấp về quản lý phát triển nhân lực du lịch, tính hợp lý và những bất hợp lý của hệ thống đối với sự phát triển nhân lực du lịch và sự phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội trên địa bàn. Các chủ trương, chính sách, cơ chế và biện pháp phát triển nhân lực du lịch, từ mục tiêu của chủ trương, chính sách, cơ chế và biện pháp cụ thể đến tính hợp lý và khả thi của chủ trương, chính sách; kết quả thực hiện so với mục tiêu và yêu cầu thực tiễn; những vấn đề đang tồn tại cần giải quyết.

Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế, của các địa phương khác trong nước về phát triển nhân lực du lịch và rút ra bài học cho địa phương mình để phát triển nhân lực du lịch, tập trung vào những nội dung: 1) Kinh nghiệm xây dựng chương trình phát triển nhân lực du lịch về nội dung chương trình; về tổ chức nghiên cứu xây dựng chương trình; và tổ chức thực hiện chương trình phát triển nhân lực. 2) Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển nhân lực du lịch, gồm kinh nghiệm về xây dựng các chính sách phát triển nhân lực; kinh nghiệm về tổ chức hệ thống đào tạo phát triển nhân lực; và kinh nghiệm về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và sự tham gia của các thành phần trong xã hội về phát triển nhân lực du lịch. 3) Kinh nghiệm đào phát triển nhân lực một số lĩnh vực, chuyên ngành  mang tính đặc thù; đào tạo nhân lực quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, quản lý kinh tế và quy hoạch mạng lưới đào tạo và xây dựng cơ sở đào tạo, nghiên cứu đẳng cấp quốc tế trong du lịch, gồm kinh nghiệm xây dựng quy hoạch mạng lưới và tổ chức đào tạo, nghiên cứu du lịch; kinh nghiệm xác định đối tượng là nhóm đặc thù (ưu tiên); và kinh nghiệm thu hút và sự tham gia của các thành phần trong xã hội về phát triển nhóm nhân lực đặc thù này.

Thứ ba, xác định và quán triệt hệ thống quan điểm phát triển nhân lực du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, tập trung làm rõ và giải quyết các vấn đề chủ yếu sau: 1) Đối với  nguồn nhân lực ngành Du lịch, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng phát triển nhân lực du lịch phải xuất phát từ nhu cầu phát triển du lịch, gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội; nguồn nhân lực phải đa tầng, đa cấp độ để đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Phát triển nhân lực du lịch phải đảm bảo giữ được tính dân tộc và hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch, yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước và yêu cầu hội nhập quốc tế. Phát triển nhân lực du lịch với cơ cấu hợp lý về vùng, niềm, dân tộc, độ tuổi, giới tính, lĩnh vực và năng động về ngành nghề, có năng lực thích ứng nhanh chóng với nhu cầu thực tế không ngừng thay đổi cả ở trong nước và trên thế giới. 2) Đối với quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực du lịch phải đổi mới phân công, phân cấp và xã hội hóa công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch. 3) Đối với đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch cần đa dạng hoá hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch theo yêu cầu của kinh tế thị trường, chấp nhận cơ chế cạnh tranh. Vừa đào tạo dài hạn chuyên ngành mang tính tập trung, bài bản, vừa phải đào tạo truyền nghề, thiếu gì bù đó theo kiểu vừa chạy vừa xếp hàng mới đi được đến nơi.

 Thứ tư, dự báo nhu cầu, xác định mục tiêu phát triển nguồn nhân lực du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030, tập trung vào: 1) Phân tích, đánh giá bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến nhu cầu phát triển nhân lực du lịch của địa phương. 2) Dự báo nhu cầu và xác định mục tiêu, yêu cầu nhân lực du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 theo 3 nhóm: Quản lý nhà nước, sự nghiệp và doanh nghiệp du lịch.

7. Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn 2030

Mỗi địa phương, theo đặc thù và khả năng của mình sẽ có hệ thống giải pháp khác nhau, nhưng nhìn chung có thể bao gồm:

Một là, hoàn thiện và đẩy mạnh quản lý nhà nước về phát triển nhân lực du lịch. Xây dựng và hoàn thiện chính sách, cơ chế và cụ thể hóa văn bản quy phạm pháp luật về phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân lực du lịch ở địa phương theo hướng tạo môi trường thuận lợi đẩy mạnh xã hội hoá phát triển nhân lực và thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước để phát triển nhân lực; thực hiện tốt chính sách tài chính về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực. Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động du lịch phục vụ nắm bắt nhu cầu, dự báo và gắn kết cung-cầu về nhân lực du lịch. Cải cách hành chính trong quản lý phát triển nguồn nhân lực du lịch với sự phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng, xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của các thành phần tham gia vào phát triển nhân lực du lịch; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; và đổi mới kiểm tra, thanh tra công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch.

Hai là, quy hoạch lại hệ thống cơ sở đào tạo, dạy nghề và cơ sở nghiên cứu về du lịch các cấp đào tạo, dạy nghề và đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp  đào tạo. Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia thống nhất về cơ sở vật chất kỹ thuật (tiếp cận chuẩn mực quốc tế) các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu về du lịch. Quy hoạch hệ thống cơ sở đào tạo, dạy nghề và cơ sở nghiên cứu du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển ngành Du lịch. Thiết kế chương trình đào tạo/dạy nghề tiếp cận theo chuẩn đầu ra - năng lực cốt lõi của mỗi vị trí việc làm gắn với thực tế thị trường lao động. Đồng thời, hướng đến tính "mở", "linh hoạt", phù hợp cho việc áp dụng vào từng đối tượng, địa chỉ cụ thể. Biên soạn chương trình môn học, bài giảng, giáo trình các học phần/môn học/mô-đun chuyên môn theo hướng tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Trong đó, thời lượng dành cho phần thực hành chiếm tỷ lệ từ 70-75% tổng thời gian học tập. Thay đổi phương pháp giảng dạy của giảng viên/giáo viên, học tập của học sinh/sinh viên theo hướng tích cực, chủ động. Nội dung bài giảng của giảng viên/giáo viên phải được thiết kế mang tính trực quan, sinh động và cụ thể với các mẫu, phiếu, biểu, hình ảnh, phim… gắn với thực tế nghề nghiệp, gắn với doanh nghiệp. Thay đổi phương pháp kiểm tra, đánh giá trên cơ sở đánh giá "năng lực", bao gồm cả 3 yêu cầu: kỹ năng, kiến thức, thái độ. Cuối kỳ, thay vì thi viết, học sinh/sinh viên được thi thực hành và vấn đáp để kiểm tra các đơn vị "năng lực" đã được học. Tập trung chủ yếu vào việc đánh giá "năng lực" chuyên môn nghiệp vụ và giao tiếp ngoại ngữ. Đây chính là cách đánh giá rất sát thực với lực học của học sinh/sinh viên. Gắn kết giữa cơ sở đào tạo/dạy nghề với doanh nghiệp du lịch trong quá trình đào tạo, thực hành, thực tập của học sinh/sinh viên để tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động sau tốt nghiệp. 

Ba là, xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên trình độ cao. Phát hiện, đào tạo và sử dụng đội ngũ giáo viên, giảng viên trình độ cao có khả năng gắn kết đào tạo, nghiên cứu khoa học với thực tiễn hoạt động của ngành Du lịch. Các địa phương của vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần có biện pháp thu hút lao động tay nghề cao, nghệ nhân, các nhà quản lý giỏi, như đãi ngộ cao (hộ khẩu, cấp đất ở, nhà ở, lương...) để có thêm các đào tạo viên du lịch. Áp dụng tiêu chuẩn VTOS trong dạy nghề du lịch. Nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cho ngành Du lịch tại Việt Nam, Chương trình Phát triển năng lực Du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội, do Liên minh châu Âu tài trợ (Dự án EU) đã sửa đổi bộ Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam phiên bản cũ (VTOS). Bộ tiêu chuẩn VTOS phiên bản mới được phát triển mở rộng bao gồm cả các lĩnh vực được xác định là quan trọng đối với Du lịch Việt Nam. Toàn bộ các tiêu chuẩn này đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử http://vtos.esrt.vn/ bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh; giúp người lao động, người sử dụng lao động, giáo viên và học sinh các trường du lịch tiếp cận, áp dụng và thực hiện theo tiêu chuẩn VTOS nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch cũng như hiệu quả đào tạo nghề du lịch một cách thống nhất. Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam sửa đổi ngoài việc kế thừa các nội dung từ phiên bản trước đã được phát triển phù hợp với các quy định của Việt Nam cũng như được chuẩn hóa, tương thích với các tiêu chuẩn nghề quốc tế, tiêu chuẩn ASEAN. Tiêu chuẩn VTOS sẽ góp phần nâng cao chất lượng của ngành du lịch thông qua việc triển khai thực hiện, định hướng công tác đào tạo và hội nhập khu vực.

Bốn là, đầu tư  xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển nhân lực du lịch. Đầu tư xây dựng mới những cơ sở đào tạo du lịch theo quy hoạch. Nâng cấp, hiện đại hoá các cơ sở đào tạo hiện có đảm bảo đạt tiêu chuẩn. Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ khẩn trương hoàn thành việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để làm nòng cốt trong đào tạo và liên kết các cơ sở đào tạo nghề và các trung tâm bồi dưỡng nghề du lịch của các địa phương, doanh nghiệp của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phấn đấu sau năm 2020 trở thành trường trọng điểm đào tạo nhân lực du lịch của khu vực. Xây dựng mới, nâng cấp và tăng cường năng lực đào tạo du lịch cho một số trường văn hoá nghệ thuật; phát triển thêm các khoa và bộ môn đào tạo du lịch ở các trường đại học và cao đẳng đã có trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long.   

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực du lịch. Đưa nội dung đào tạo phát triển nhân lực du lịch vào các cam kết hợp tác đa phương và song phương của địa phương, tập trung đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, sinh viên du lịch; trao đổi thực tập; xây dựng và cung cấp chương trình, giáo trình; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Đổi mới thu hút mạnh các nguồn đầu tư nước ngoài phục vụ phát triển nhân lực du lịch. Có chính sách, cơ chế tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường thu hút chuyên gia giỏi là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài, người Việt Nam công tác ở các địa phương trong nước và người của địa phương mình công tác ở các địa phương khác trong nước cho phát triển nhân lực du lịch của địa phương mình. Tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch và cơ sở nghiên cứu du lịch của địa phương mở rộng hợp tác liên kết hợp tác với nước ngoài nhằm năng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu về phát triển nhân lực du lịch. 

Sáu là, tuyên truyền, giáo dục hướng nghiệp, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức và nhân dân về phát triển nhân lực du lịch. Tuyền truyền, giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục phổ thông để định hướng cho học sinh phổ thông lựa chọn nghề, lựa chọn trường. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và đoàn thể về phát triển nhân lực du lịch, thay đổi nhận thức và hành vi của các tổ chức đào tạo, dạy nghề du lịch và sử dụng nhân lực du lịch theo hướng tăng cường độc lập, tư chủ và hoạt động thích nghi với thị trường lao động, đẩy mạnh liên kết. Giáo dục cộng đồng dân cư về phát triển nhân lực du lịch trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Mỗi địa phương nên xây dựng đề án tạo việc làm, trong đó chú trọng tạo việc làm thông qua du lịch, tại các đô thị, khu công nghiệp và phân bố lại lao động giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn; hỗ trợ đào tạo và hướng dẫn tự tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình làm du lịch, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; đào tạo tay nghề để khôi phục, phát triển nghề cổ truyền tạo điểm tham quan du lịch và sản xuất hàng lưu niệm bán cho khách...; tranh thủ trợ giúp quốc tế và trong nước cho mục đích nhân đạo, gắn với việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và giáo dục du lịch.

Bảy là, huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực du lịch. Tăng nguồn ngân sách Nhà nước (ngân sách trung ương và địa phương). Thu hút các nguồn lực của khu vực doanh nghiệp (các thành phần kinh tế), đặc biệt là trong việc phát triển hệ thống dạy nghề du lịch nhằm đào tạo nhân lực phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Thực hiện chính sách học phí đáp ứng nhu cầu đào tạo đảm bảo chất lượng và phù hợp với khả năng người học; sử dụng hiệu quả hơn công cụ học phí trong việc điều tiết quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo. Mở rộng và phát triển mạnh hình thức tín dụng đào tạo cho sinh viên nghèo và con em gia đình chính sách. Mở rộng hợp tác quốc tế và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn ODA, FDI, viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài để phát triển đào tạo nhân lực du lịch. Huy động các nguồn lực của các tổ chức xã hội... cho phát triển đào tạo nhân lực du lịch.

8. Thay cho lời kết

Nguồn nhân lực du lịch có vai trò quyết định không chỉ cho riêng sự phát triển du lịch mà còn góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế của đất nước. Nhiều năm qua, ngành Du lịch đã có những cố gắng huy động cộng đồng, các thành phần kinh tế và sự hỗ trợ của quốc tế cho phát triển nhân lực. Công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết. Thông qua Hội thảo này, chúng tôi hy vọng và cũng là kiến nghị với lãnh đạo của 13 địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ cần quan tâm và chỉ đạo sát sao hơn nữa thì sự nghiệp phát triển nhân lực du lịch của từng địa phương và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những thành quả trong phát triển nguồn nhân lực du lịch của các địa phương trong vùng những năm vừa qua phải được phát huy tốt hơn nữa, những hạn chế, bất cập trong đào tạo phát triển nhân lực du lịch phải được giải quyết khẩn trương. Những quyết tâm chính trị trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch của mỗi địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long hơn lúc nào hết phải chuyển nhanh thành hành động cụ thể mới có thể theo kịp diễn biến của tình hình hiện nay, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về phát triển du lịch trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Quyết định số 221/2005/QĐ-TTg ngày 09.9.2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Chương trình Quốc gia phát triển nhân lực đến năm 2020.
  2. Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 24.6.2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030”.
  3. Quyết định số 1060/QĐ-BVHTTDL ngày 29.3.2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch 2011-2020”.
  4. Quyết định số 3066/QĐ-BVHTTDL ngày 29.9.2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Quy hoạch “Phát triển nhân lực ngành du lịch 2011-2020”.
  5. Quyết định số 2473/2011/QĐ-TTg ngày 30.12.2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030".
  6. Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 08.12.2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới.
  7. Báo cáo công tác hoạt động của 13 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  8. Hệ thống tiêu chuẩn VTOS 2013, Chương trình Phát triển năng lực Du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU), Tổng cục Du lịch.

 

 

 

 

 

 

Phụ lục 1.

Nhân lực du lịch trực tiếp tại các địa phương

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2015

 

Đơn vị tính: Người

 

STT

Địa phương

2011

2012

2013

2014

2015

  1.  

An Giang

1.000

1.300

2.152

2.567

3.027

  1.  

Bạc Liêu

1.010

1.255

1.978

2.264

2.654

  1.  

Bến Tre

2.624

3.574

4.290

5.396

5.751

  1.  

Cà Mau

830

1.400

3.200

3.867

4.568

  1.  

Cần Thơ

1.973

2.336

3.256

4.685

5.986

  1.  

Đồng Tháp

358

424

753

928

1.135

  1.  

Hậu Giang

174

205

285

325

420

  1.  

Kiên Giang

1.264

2.300

3.704

3.987

4.258

  1.  

Long An

496

695

726

802

925

  1.  

Sóc Trăng

465

500

602

798

912

  1.  

Tiền Giang

1.572

1.800

2.103

2.532

2.896

  1.  

Trà Vinh

318

490

620

750

890

  1.  

Vĩnh Long

738

1.100

1.300

1.675

1.986

 

Tổng số

12.822

17.379

24.969

30.576

35.408

 

          Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn liên quan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phụ lục 2.

Dự báo nhu cầu nhân lực du lịch

vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020

 

Đơn vị tính: Người

STT

Địa phương

Loại nhân lực

2015

2020

  1.  

An Giang

Nhân lực du lịch trực tiếp

3.150

5.100

Nhân lực du lịch gián tiếp

5.650

9.200

Tổng cộng

8.800

14.300

  1.  

Bạc Liêu

Nhân lực du lịch trực tiếp

2.700

4.600

Nhân lực du lịch gián tiếp

4.000

7.400

Tổng cộng

6.700

12.000

  1.  

Bến Tre

Nhân lực du lịch trực tiếp

8.500

13.100

Nhân lực du lịch gián tiếp

15.300

23.600

Tổng cộng

23.800

36.700

  1.  

Cà Mau

Nhân lực du lịch trực tiếp

4.900

6.700

Nhân lực du lịch gián tiếp

7.300

10.700

Tổng cộng

12.200

17.400

  1.  

Cần Thơ

Nhân lực du lịch trực tiếp

7.000

10.700

Nhân lực du lịch gián tiếp

11.200

19.300

Tổng cộng

18.200

30.000

  1.  

Đồng Tháp

Nhân lực du lịch trực tiếp

2.400

4.000

Nhân lực du lịch gián tiếp

4.300

7.200

Tổng cộng

6.700

11.200

  1.  

Hậu Giang

Nhân lực du lịch trực tiếp

1.400

2.200

Nhân lực du lịch gián tiếp

2.100

3.500

Tổng cộng

3.500

5.700

  1.  

Kiên Giang

Nhân lực du lịch trực tiếp

4.800

8.600

Nhân lực du lịch gián tiếp

9.600

17.200

Tổng cộng

14.400

25.800

  1.  

Long An

Nhân lực du lịch trực tiếp

1.800

2.900

Nhân lực du lịch gián tiếp

3.200

5.200

Tổng cộng

5.000

8.100

  1.  

Sóc Trăng

Nhân lực du lịch trực tiếp

1.100

2.400

Nhân lực du lịch gián tiếp

1.600

3.800

Tổng cộng

2.700

6.200

  1.  

Tiền Giang

Nhân lực du lịch trực tiếp

8.500

13.100

Nhân lực du lịch gián tiếp

15.300

23.600

Tổng cộng

23.800

36.700

  1.  

Trà Vinh

Nhân lực du lịch trực tiếp

1.200

2.200

Nhân lực du lịch gián tiếp

1.800

3.500

Tổng cộng

3.000

5.700

  1.  

Vĩnh Long

Nhân lực du lịch trực tiếp

4.500

6.500

Nhân lực du lịch gián tiếp

8.100

11.700

Tổng cộng

12.600

18.200

  1.  

Toàn vùng

Nhân lực du lịch trực tiếp

47.650

75.400

Nhân lực du lịch gián tiếp

80.450

132.500

Tổng cộng

128.100

207.900

          Nguồn: Dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch

 

Phụ lục 3.

Cơ sở đào tạo nhân lực du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long

 

STT

Địa phương

Cơ sở đào tạo

Năm thành lập

Cơ quan chủ quản

Địa chỉ

  1.  

An Giang

Trường Đại học An Giang

1999

UBND tỉnh An Giang

18 Ung Văn Khiêm, phường Đông Xuyên, TP. Long Xuyên, An Giang

Trường Cao Đẳng nghề An Giang

2007

UBND tỉnh An Giang

165A Trần Hưng Đạo, phường Bình Khánh, TP. Long Xuyên, An Giang

Trường Trung cấp nghề Châu Đốc

2009

Sở LĐTBXH An Giang

Đường kênh Hòa Bình, khóm Châu Long 8, phường B, thị xã Châu Đốc, An Giang

  1.  

Bạc Liêu

Trường Đại học Bạc Liêu

2006

UBND tỉnh Bạc Liêu

178, Võ Thị Sáu, phường 8, TP. Bạc Liêu, Bạc Liêu

Trường Trung cấp Văn hóa - Nghệ thuật Bạc Liêu

1999

Sở VHTTDL Bạc Liêu

88 đường 23/8, Trà Kha, phường 8, TP. Bạc Liêu, Bạc Liêu

  1.  

Bến Tre

Trường Cao đẳng Bến Tre

2004

Sở GD và Đào tạo

Ấp 1, xã Sơn Đông, TP. Bến Tre,    Bến Tre

Trường Cao đẳng nghề Đồng Khởi

1993

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

17 A4, QL60, khu phố 1, phường Phú Khương, TP. Bến Tre, Bến Tre

Trường Trung cấp Văn hóa - Nghệ thuật

2004

Sở VHTTDL Bến Tre

160A Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, TP. Bến Tre, Bến Tre

  1.  

Cà Mau

Trường Đại học Bình Dương

(chi nhánh Cà Mau)

1997

Chính phủ

Lô C, 16-17, khu Đông Bắc, phường 5, TP. Cà Mau, Cà Mau

Trường Đại học Tôn Đức Thắng

(chi nhánh Cà Mau)

1997

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Đường Mậu Thân, phường 9, TP. Cà Mau, Cà Mau

Trường Cao đẳng Sư phạm Cà Mau

1997

UBND tỉnh Cà Mau

155A Nguyễn Tất Thành, phường 8, TP. Cà Mau, Cà Mau

Trường Cao đẳng Cộng đồng

2007

UBND tỉnh Cà Mau

126 Đường 3/2, phường 6, TP. Cà Mau, Cà Mau

Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật

1999

Sở GDĐT Cà Mau

02 Nguyễn Tất Thành, phường 8, TP. Cà Mau, Cà Mau

Trường Trung cấp Văn hóa, Thể thao và Du lịch

2000

Sở GDĐT Cà Mau

80 Nguyện Trãi, phường 9, TP. Cà Mau, Cà Mau

Trường Trung cấp nghề tỉnh Cà Mau

2001

Sở LĐTBXH Cà Mau

Vành đai 02, phường 9, TP. Cà Mau, Cà Mau

  1.  

Cần Thơ

Trường Đại học Cần Thơ

1966

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Khu II, đường 3/2, phường Xuân Khánh, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ

Trường Đại học Tây Đô

2006

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Lô Hậu Thạnh Mỹ, phường Lê Bình, Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ

Trường Cao đẳng Cần Thơ

1977

UBND TP. Cần Thơ

209 Đường 30/4, phường Hưng Lợi, Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ

Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ

2013

Bộ VHTTDL

85 Phan Đăng Lưu, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ

Trường Trung cấp Bách Nghệ Cần Thơ

2004

Sở GDĐT Cần Thơ

93/4 Trần Hưng Đạo, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ

  1.  

Đồng Tháp

Trường Đại học Đồng Tháp

2008

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Phường 6, TP. Cao Lãnh, Đồng Tháp

Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

2001

UBND tỉnh Đồng Tháp

Phường Hòa Thuận, TP. Cao Lãnh,  Đồng Tháp

Trung tâm Văn hóa tỉnh Đồng Tháp

1991

Sở VHTTDL Đồng Tháp

Phường 4, TP. Cao Lãnh, Đồng Tháp

  1.  

Hậu Giang

Trường Nghiệp vụ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

2007

Sở VHTTDL Hậu Giang

Khu 406, đường Trần Hưng Đạo, khu vực 3, phường 5, TP.Vị Thanh, Hậu Giang

  1.  

Kiên Giang

Trường Nghiệp vụ Văn hóa - Thông tin

1998

Sở VHTTDL Kiên Giang

659, Nguyễn Trung Trực,
phường An Hòa, TP. Rạch Giá, Kiên Giang

  1.  

Long An

Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An

2007

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Quốc lộ 1A, Khánh Hậu, TP. Tân An, Long An

Trường Cao đẳng nghề Long An

2007

UBND tỉnh Long An

60 Quốc lộ 1, phường 5, TP. Tân An, Long An

Trường Trung cấp nghề Đức Hòa

2007

Sở LĐTBXH Long An

180A, Đường 3/2, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, Long An

Trường Trung cấp nghề Đồng Tháp Mười

2007

Sở LĐTBXH Long An

Xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa, Long An

Trường Trung cấp nghề Cần Giuộc

2007

Sở LĐTBXH Long An

Xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, Long An

Trung tâm Dạy nghề Đức Huệ

 

Sở LĐTBXH Long An

Huyện Đức Huệ, Long An

Trung tâm Dạy nghề Vĩnh Hưng

 

Sở LĐTBXH Long An

Huyện Vĩnh Hưng, Long An

  1.  

Sóc Trăng

Trường trung học Văn hóa nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng

1976

Sở VHTTDL Sóc Trăng

719/3 Lê Hồng Phong, phường 3, TP. Sóc Trăng, Sóc Trăng

  1.  

Tiền Giang

Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Tiền Giang

1999

Sở VHTTDL Tiền Giang

56 Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, TP. Mỹ Tho, Tiền Giang

  1.  

Trà Vinh

Trường đại học Trà Vinh

2006

UBND tỉnh Trà Vinh

126 Quốc lộ 53, khóm 4, phường 5, TP. Trà Vinh, Trà Vinh

Trường Trung học Văn hóa nghệ thuật Trà Vinh

1998

UBND tỉnh Trà Vinh

26 Phạm Ngũ Lão, phường 1, TP. Trà Vinh, Trà Vinh

  1.  

Vĩnh Long

Trường Đại học Cửu Long

2000

Chính phủ

Quốc lộ 1A, Long Hồ, Vĩnh Long

Trường Văn hóa, Nghệ Thuật Vĩnh Long

1977

Sở VHTTDL Vĩnh Long

19/1, Xóm Bún, phường 2, TP. Vĩnh Long, Vĩnh Long

 

          Nguồn: Tác giả tổng hợp

ThS. Đoàn Mạnh Cương