13 Tháng Mười Một 2019

Tin tức - Sự kiện

ĐỔI MỚI QUẢN LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

18 Tháng Giêng 2017          18537 lượt xem

ThS. Đoàn Mạnh Cương

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, coi đó là chìa khóa để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục - đào tạo là cùng với khoa học, công nghệ, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Mục tiêu của giáo dục - đào tạo là: 1) Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; 2) Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 3) Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, tăng cường hiệu quả và thực hiện công bằng xã hội; 4) Đáp ứng yêu cầu dân trí, nhân lực, nhân tài của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; 5) Đáp ứng nhu cầu học của mọi tầng lớp xã hội, tiến tới một xã hội học tập. 

Tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, thảo luận về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Ban Chấp hành Trung ương nhận định: Với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của cả xã hội, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, nhà quản lý, nhà khoa học, sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng về quy mô, chất lượng giáo dục các cấp; công tác quản lý; đội ngũ nhà giáo; công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ; tiềm lực khoa học và công nghệ; thị trường và các dịch vụ khoa học công nghệ; hợp tác quốc tế v.v… Tuy nhiên, bên cạnh đó còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót và yếu kém. Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực. Công tác quản lý còn nhiều bất cập. Hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội. Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ còn nhiều thiếu sót, bất cập. Đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả chưa cao. Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu; thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ với kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý. 

Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước, của toàn dân và là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo phải được ưu tiên và đi trước. Mục tiêu cốt lõi của giáo dục và đào tạo là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực con người Việt Nam. Phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc nhận thức và tư duy về giáo dục và đào tạo; về công tác quản lý giáo dục; về nội dung, phương pháp giáo dục; hình thức và phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục; cơ chế, chính sách đầu tư tài chính. Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân thành hệ thống giáo dục mở và xây dựng xã hội học tập. Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và công tác truyền thông phục vụ đổi mới giáo dục. Mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế về giáo dục. Khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển đất nước. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ, coi đây là khâu đột phá. Xác định nhân lực khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định đối với phát triển khoa học và công nghệ. Ưu tiên nguồn lực quốc gia, tạo động lực để phát triển khoa học và công nghệ. Chủ động hợp tác và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, hiệu quả.

Thông qua Hội thảo này, chúng tôi hi vọng sẽ góp một phần ý kiến về quản lý giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

1. Một số quan điểm về giáo dục trong bối cảnh hiện nay

1.1. Giáo dục là dịch vụ

Xu hướng toàn cầu hoá và chuyển đổi kinh tế sang hướng đáp ứng nhu cầu thị trường đang là xu thế chủ đạo của nhiều nước trên thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam. Cơ chế thị trường đang dần trở thành thuật ngữ quen thuộc trong tất cả các lĩnh vực, ngay cả trong giáo dục là nơi có sự bao cấp của nhà nước cao nhất. Giáo dục là một phần quan trọng nhất của loài người, do số lượng và loại hình giáo dục mà từng con người trong chúng ta tiếp nhận được trong cuộc đời của mình có sự ảnh hưởng rất quan trọng đến công việc và thu nhập của chúng ta. Ngày nay, giáo dục được xem là một loại dịch vụ, được đem ra đàm phán trên thị trường thế giới và được giới thiệu nhằm đem lại giá trị kinh tế cho các quốc gia, tổ chức. Công nghệ giáo dục của nhiều nước đã được phát triển và được xem là một trong những nguồn thu quan trọng của nhiều quốc gia.

1.2. Sinh viên là khách hàng

Trong các lĩnh vực kinh doanh, nhiều người tin rằng các nhà quản lý và điều hành khôn ngoan là những người biết giữ lại các khách hàng hiện có hơn là tìm khách hàng mới vì điều này mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Lý thuyết này cũng được thực tế chứng minh là đúng cho các trường đại học. Các nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh tế là rất cao khi các trường biết cách giữ sinh viên cho mình và duy trì các hội cựu sinh viên. Trong khi một số các nhà quản lý cho rằng khó có thể chấp nhận quan niệm “sinh viên là khách hàng” thì trên thực tế, những nhà quản lý ở các trường đại học khác đã rất thành công trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sinh viên tốt và duy trì số lượng sinh viên tốt nghiệp so với số lượng đầu vào ban đầu. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các trường để thu hút sinh viên đang diễn ra gay gắt, các trường đại học là những đơn vị cung cấp dịch vụ đào tạo bao gồm các chương trình đào tạo, bằng cấp và các dịch vụ hỗ trợ trong thời gian sinh viên học tập tại trường và sau khi ra trường với tư cách là cựu sinh viên. Sinh viên là người bỏ cho chi phí để tham gia vào quá trình đào tạo, nỗ lực học tập để tốt nghiệp và đóng góp vào nguồn lực nhà trường ngay cả sau khi ra trường. Mối quan hệ này càng tốt đẹp bao nhiêu thì lợi ích mà nó mang lại cho cả hai bên càng nhiều bấy nhiêu.

1.3. Cạnh tranh trong giáo dục

Giáo dục và cạnh tranh là hai thực thể mang tính toàn cầu, trong đó giáo dục đóng vai trò rất lớn và tác động sâu sắc đến cuộc sống con người. Hiện nay, như đã đề cập ở trên, giáo dục được xem là một dạng dịch vụ, là nguồn thu quan trọng của nhiều nước có nền kinh tế phát triển. Chính vì vậy, cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo nhằm thu hút người học trong nước lẫn từ nước ngoài ngày càng trở nên gay gắt hơn.

Nhìn chung, bên cạnh các đặc điểm đã được nêu trên, các dấu hiệu sau đây của giáo dục được nhiều nhà nghiên cứu cho là thiên về định hướng thị trường:

(1) Giáo dục là một loại dịch vụ và do đó, có cạnh tranh trong giáo dục - đào tạo, có thị trường giáo dục, giáo dục được xem là gắn với lợi ích cá nhân hơn là phúc lợi xã hội.

(2) Có nhiều thành phần khác nhau trong xã hội tham gia đầu tư vào giáo dục và do đó, nhiều đối tượng được hưởng lợi hơn nếu có sự  đầu tư của các thành phần khác ngoài nhà nước cho giáo dục.

(3) Không có sự độc quyền trong kinh doanh các sản phẩm giáo dục (sách, giáo trình, trang thiết bị...).

(4) Có tác động của quy luật cung - cầu trong giáo dục và gia đình cũng như người học có quyền lựa chọn trường học;

(5) Nhà trường tự quyết định việc cung cấp dịch vụ giáo dục cho người học và xem người học như là khách hàng hay người sử dụng các dịch vụ giáo dục. Do đó, nhà trường phải tìm cách sáng tạo, đổi mới để nâng cao chất lượng trong cơ chế thị trường.

1.4. Thị trường dịch vụ giáo dục

Có hay không thị trường giáo dục hiện vẫn là vấn đề được nhiều người quan tâm nghiên cứu do có nhiều luồng ý kiến khác nhau và chưa có câu trả lời khẳng định thống nhất. Những luồng ý kiến chủ yếu được chia ra 5 loại:

(1) Giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt: Giáo dục là ngành sản xuất phi vật chất, nhưng nó sản xuất và tái sản xuất năng lực lao động cho xã hội, nó là ngành sản xuất có tính nền tảng, ngành sản xuất gián tiếp và là ngành sản xuất có hiệu quả kinh tế cao (siêu lợi nhuận). Coi giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt sẽ đem lại cho giáo dục những cơ hội phát triển và sức sống mới trong trong giáo dục.

(2) Giáo dục là thành tố của sản xuất: Giáo dục là thành tố quan trọng của sản xuất trong xã hội vì giáo dục tạo ra nhân lực, tạo ra người lao động có phẩm chất, có tri thức học vấn, có tay nghề, kỹ năng cho sản xuất. Do sản phẩm của giáo dục có giá trị như trên, nên giáo dục là thành tố quan trọng của sản xuất.

(3) Giáo dục là ngành sản xuất độc lập: Nhiều người cho rằng giáo dục cũng như khoa học - công nghệ phải là ngành sản xuất độc lập vì vị trí và vai trò quan trọng của giáo dục trong phát triển kinh tế - xã hội. Coi nhẹ và đối xử không đúng với giáo dục sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục và từ đó ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội.

(4) Giáo dục là dịch vụ thương mại: Tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) đã phân chia dịch vụ giáo dục và xếp nó vào nhóm thứ 5 với: Dịch vụ giáo dục tiểu học; Dịch vụ giáo dục trung học; Dịch vụ giáo dục đại học; Dịch vụ đào tạo trung học cho người lớn; Dịch vụ đào tạo trung học khác. Trên cơ sở này WTO cũng đã đưa ra 4 phương thức cung cấp dịch vụ:

- Cung ứng xuyên quốc gia (Cross border): Tức là một thành viên có thể cung ứng dịch vụ từ nước mình đến bất cứ quốc gia nào trong WTO. Với giáo dục chủ yếu là cung ứng dịch vụ đào tạo, chương trình, giáo trình và giáo dục từ xa.

- Tiêu thụ ngoài nước (Consumption abroad): Quốc gia thành viên có thể cung cấp dịch vụ từ nước mình cho người tiêu thụ ở bất cứ quóc gia nào trong WTO. Với giáo dục chủ yếu là dịch vụ du học…

- Hiện diện thương mại (Commercial presence): Chỉ việc cung cấp dịch vụ của một quốc gia thành viên có thể cung cấp dịch vụ tới các quốc gia khác thông qua hiện diện thương mại. Với giáo dục thể hiện ở chỗ một tổ chức giáo dục của một quốc gia thành viên có thể mở hoạt động giáo dục, đào tạo của mình tại các quốc gia thành viên khác.

- Sự lưu chuyển công dân tự do (Presence of natural persons): Chỉ việc cung cấp dịch vụ của nước thành viên có thể cung cấp dịch vụ thông qua sự lưu chuyển công dân tự do đến bất cứ nước thành viên khác nào. Với giáo dục, chủ yếu sẽ được thực hiện thông qua di chuyển hoạt động giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu giữa các trường, viện, học viện, các cơ sở giáo dục và đào tạo, các công ty giáo dục khác trong tất cả các nước thành viên.

(5) Giáo dục không thể là sản xuất: Luồng ý kiến này cho rằng giáo dục không thể là một ngành “sản xuất”. Họ xem quá trình giáo dục là tái sản xuất tri thức về văn hoá, khoa học kỹ thuật. Giáo dục nâng cao tố chất của toàn dân tộc vì vậy cần phải xem giáo dục là sự nghiệp công ích cơ bản nhất của đất nước.

2. Quản lý nhà nước về giáo dục

2.1. Quan niệm

Theo tự điển Bách khoa về giáo dục học, khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục được giải nghĩa là: "Thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội". Như vậy có thể hiểu quản lý nhà nước về giáo dục là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục quốc gia. Nếu xem quản lý nhà nước như là một hệ thống, thì quản lý nhà nước về giáo dục là một hệ thống bao gồm các thể chế, cơ chế quản lý giáo dục; tổ chức, bộ máy quản lý giáo dục và đội ngũ cán bộ và công chức quản lý giáo dục các cấp. Ba bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ. Chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành, tác nghiệp.

2.2. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục

Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục Việt Nam được qui định cụ thể trong chương VII, Mục 1, Điều 99 của Luật Giáo dục (2005) như sau:

1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục;

2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục khác;

3. Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;

4. Tổ chức, quản lý việc đảm bảo chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;

5. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;

6. Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

7. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;

8. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;

9. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;

10. Tổ chức công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;

12. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.

3. Cơ chế giáo dục

3.1. Quan niệm

Cơ chế giáo dục là sự phản ảnh chức năng bản chất của giáo dục. Giáo dục là hoạt động xã hội đào tạo, bồi dưỡng con người. Tuỳ thuộc vào chế độ chính trị và thể chế nhà nước mà các quốc gia có các cơ chế giáo dục trong quản lý sẽ khác nhau. Ngay trong một quốc gia cơ chế quản lý giáo dục cũng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội v.v... Cơ chế giáo dục phản ánh tổng hợp các nhân tố của hệ thống giáo dục. Cơ chế quản lý giáo dục về cơ bản có hai loại chủ yếu: 1) Cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung; và 2) Cơ chế quản lý phi tập trung và định hướng thị trường ở nhiều mức độ khác nhau.

Điển hình cho cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong quản lý giáo dục là ở các nước khối xã hội chủ nghĩa trước đây với quan điểm giáo dục là phúc lợi xã hội và nhà nước bao cấp toàn bộ các nhu cầu giáo dục của các tầng lớp xã hội. Mọi hoạt động giáo dục được quản lý và kế hoạch hoá (dài hạn hoặc ngắn hạn) từ các cấp trung ương cho đến các cấp địa phương. Cơ chế này cũng được sử dụng ở các nhà nước tập quyền trong đó mọi quyền lực chủ yếu tập trung ở trung ương. Mức độ thấp hơn nhiều là ở các nước khối ASEAN (Thái Lan, Malaysia, Indonesia v.v...). Một số nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc... thực hiện cơ chế quản lý nhà nước tập trung ở các cơ quan quản lý ở trung ương (Bộ Giáo dục, Bộ Giáo dục và phát triển nhân lực, Các cơ quan chức năng của chính phủ...). Các cơ quan này chủ yếu có chức năng hoạch định chính sách, xây dựng và tổ chức chỉ đạo các kế hoạch phát triển giáo dục quốc gia trung hạn và dài hạn, xác định các chuẩn mực giáo dục, quản lý các hoạt động giáo dục theo luật pháp v.v... Các cơ quan quản lý giáo dục ở các cấp và các cơ sở giáo dục được phân cấp quản lý theo chức năng và quyền hạn của mình. Cơ chế quản lý tập trung có khả năng kiểm soát chặt chẽ toàn bộ các hoạt động giáo dục, huy động tập trung các nguồn lực quốc gia cho giáo dục, nhưng có hạn chế rất cơ bản là kém linh hoạt và khó thích ứng nhanh với những nhu cầu giáo dục đa dạng và luôn thay đổi của xã hội, không phát huy được  tính năng động và sáng tạo của các địa phương, các cơ sở giáo dục.

Cơ chế quản lý giáo dục phi tập trung và định hướng thị trường có các điển hình tiêu biểu là Mỹ, Canada, Australia v.v... Với quan niệm giáo dục là một loại hình dịch vụ xã hội, cơ chế này được đặc trưng bởi sự phân quyền mạnh cho chính quyền các bang, có trách nhiệm quản lý toàn bộ các loại hình giáo dục kể cả giáo dục đại học, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, hoạch định và thực thi kế hoạch chiến lược về giáo dục của bang mình. Các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các trường đại học có quyền tự chủ rất cao về mọi mặt trong khuôn khổ luật pháp liên bang và luật pháp của từng bang. Chính phủ và các cơ quan quản lý giáo dục quốc gia như bộ giáo dục chủ yếu có vai trò hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược và mục tiêu phát triển giáo dục quốc gia, hỗ trợ tài chính và quản lý các chương trình giáo dục của liên bang, xây dựng và ban hành các chuẩn mực quốc gia về giáo dục như các chuẩn kiến thức và kỹ năng cho các cấp học.

3.2. Nội dung cơ chế giáo dục

Trong nền kinh tế thị trường, cơ chế giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong mối quan hệ với phát triển giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội và có quan hệ tương hỗ với văn hóa, khoa học - công nghệ, chính trị, kinh tế. Trong quản lý nhà nước về giáo dục, cơ chế giáo dục chịu tác động lẫn nhau giữa các yếu tố chính trị, mô hình phát triển kinh tế, mức độ phát triển kinh tế, trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ, quan hệ quốc tế và truyền thống văn hoá - giáo dục. Nội dung của cơ chế giáo dục được thể hiện như sau:

- Mục tiêu giáo dục: Theo Điều 2 của Luật Giáo dục (2005): “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

- Cơ cấu giáo dục là tỷ lệ và thể hiện sự liên kết giữa các loại cơ cấu trong hệ thống giáo dục: cơ cấu trình độ, cơ cấu loại hình, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, cơ cấu đầu tư, cơ cấu quản lý v.v...

- Thể chế giáo dục chủ yếu là thể chế quản lý giáo dục phù hợp với thể chế chính trị, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế giáo dục phải đảm bảo được Đảng, Nhà nước và toàn dân chăm lo cho giáo dục.

- Cơ chế đầu tư giáo dục. Đầu tư giáo dục chủ yếu là đầu tư trí lực và ngân sách của Nhà nước cho giáo dục, ngoài ra cần huy động và tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục có thể thu hút được nhiều nguồn lực từ mọi tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước đóng góp và trợ giúp cho giáo dục phát triển.

- Cơ chế đánh giá giáo dục. Đánh giá giáo dục là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động giáo dục. Đánh giá giáo dục có tác động thực sự đến giáo dục của cả nước, của từng địa phương và của các cơ sở giáo dục, bởi vì đánh giá giáo dục liên quan đến nội dung, chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất nhà trường, học lực, năng lực trí tuệ, sức khoẻ, nhân cách, hoàn cảnh của người đi học... Trình độ giáo dục của một quốc gia thường phản ánh trình độ phát triển của quốc gia ấy. Đánh giá giáo dục là nội dung bắt buộc và cần thiết trong cơ chế giáo dục.

4. Động lực giáo dục

4.1. Tác động của kinh tế-xã hội đến phát triển giáo dục

Giáo dục chịu sự tác động mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, nhưng ngược lại giáo dục cũng là động lực quan trọng làm nhanh hay chậm đến sự phát triển của kinh tế - xã hội. Động lực giáo dục chịu sự tác động của kinh tế - xã hội ở các mặt sau:

(1) Cơ chế thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và tốc độ phát triển của sự nghiệp giáo dục;

(2) Mức độ phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị trong tiến trình hiện đại hoá giáo dục;

(3) Trình độ phát triển khoa học - công nghệ;

(4) Truyền thống văn hoá giáo dục tác động đến phát triển giáo dục.

4.2. Giáo dục tác động đến phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục ngày nay có chức năng tái sản xuất tri thức khoa học và sức lao động của mỗi người dân. Muốn tiến hành tái sản xuất sức lao động, thì phải có nguồn nhân lực (nhân lực, tài lực, vật lực...) và nhất là phải có kinh phí cho giáo dục. Trong bất cứ thời gian nào và hoàn cảnh nào thì đầu tư ngân sách của Nhà nước bao giờ cũng là chủ yếu. Bên cạnh ngân sách chủ yếu này cần tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn cho giáo dục từ mọi tổ chức, cá nhân, mọi lực lượng trong và ngoài nước trên cơ sở đa dạng hoá các loại hình giáo dục. Cơ chế giáo dục phải có sự đổi mới để đồng bộ với cơ chế của thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể cần lưu ý các mặt như sau: 1) Giáo dục nâng cao trình độ giác ngộ và đổi mới tư duy; 2) Giáo dục là con đương cơ bản để đổi mới và nâng cao trình độ quản lý; 3) Giáo dục thúc đẩy sự phát triển khoa học - công nghệ; 4) Giáo dục biến sức lao động có khả năng phát triển kinh tế - xã hội thành hiện thực.

Do vậy cần giao quyền tự chủ và tính trách nhiệm triệt để cho các cơ sở giáo dục. Thực sự coi cơ sở giáo dục (nhà trường) là nơi thực thi nhiệm vụ giáo dục, dạy học và nghiên cứu khoa học. Hoạt động của nhà trường tốt hay xấu đều trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển sự nghiệp giáo dục, ảnh hưởng đến sự hoàn thiện và phát triển của nền kinh tế, chính trị và xã hội. Giao trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích phù hợp theo nguyên tắc ngang giá, thực sự đảm bảo phân phối lợi ích công bằng, dân chủ và công khai. Khuyến khích tính tiến thủ, sự sáng tạo của từng thày, cô giáo, cán bộ công nhân viên và học sinh, sinh viên. Đưa cơ chế cạnh tranh vào quản lý nhà trường.

5. Quản lý nhà nước về giáo dục và cơ chế giáo dục trong nền kinh tế thị trường

Cơ chế giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa quan trọng trong phát triển giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo và quản lý giáo dục đã căn cứ vào quy luật khách quan của phát triển giáo dục để đề ra các chủ trương chính sách, luật giáo dục và các văn bản pháp quy giáo dục và thực hiện chúng thông qua cơ chế giáo dục. Cơ chế giáo dục được chỉ đạo và thực hiện bằng các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục. Cơ chế đó thực chất là nhân tố thực thi, là những giải pháp hữu hiệu và cả là động lực kích thích, thúc đẩy giáo dục phát triển. Nói cách khác quản lý nhà nước về giáo dục theo cơ chế thị trường chính là tổng hoà mọi phương pháp, giải pháp các khâu của cơ chế giáo dục mới mà nền  giáo dục trong nền kinh tế mới dựa vào đó để vận hành phát triển từ mục tiêu, nội dung, đầu tư, giá thành, điều tiết, kiểm tra, đánh giá giáo dục...

5.1. Quản lý nhà nước đảm bảo sự thống nhất giữa phát triển giáo dục và kinh tế

Về cơ sở lý luận, phát triển giáo dục phải đi trước một bước phát triển kinh tế. Ngày nay các nước trên thế giới muốn phát triển kinh tế phải trên cơ sở phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, phải dựa vào nguồn nhân lực có trình độ cao về tri thức cũng như kỹ năng và tay nghề. Nguồn nhân lực này có được không gì khác chỉ có thể có ở một nền giáo dục phát triển phù hợp và hài hoà với nền kinh tế thị trường đang đòi hỏi giáo dục phát triển đa dạng ở nước ta. Cụ thể là:

(1) Sự đa dạng hoá cách làm giáo dục thông qua đa dạng hoá loại hình giáo dục: Giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy với nhiều thang bậc, loại hình dài hạn và ngắn hạn với những cơ cấu linh hoạt, mềm dẻo, liên thông về nội dung, về ngành nghề, về không gian (vùng, miền) và thời gian.

(2) Giáo dục thích ứng với nhu cầu xã hội: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài thích ứng với nhu cầu xã hội. Đào tạo nhân lực với nhiều hình thức căn cứ vào nhu cầu xã hội, lấy hiệu quả xã hội của giáo dục làm nền tảng. Tối ưu hoá tri thức của học sinh, sinh viên, mở rộng diện kiến thức, tăng cường nhiều năng lực thích ứng với những biến động mới của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện tốt cho học sinh, sinh viên được tiếp xúc nhiều và thường xuyên với xã hội, thực sự hiểu biết xã hội và tăng cường năng lực xử lý các vấn đề thực tế đang diễn ra hàng ngày.

(3) Đa dạng hoá cơ cấu ngành nghề đáp ứng nhu cầu kinh tế trung ương và địa phương trong hợp tác quốc tế với xu thế toàn cầu hoá.

(4) Giao quyền tự chủ và đảm bảo quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là trường đại học để có thể thích ứng nhanh được với kinh tế thị trường. Quản lý trường học phải dựa trên cơ sở tổ chức, sử dụng một cách khoa học nhân lực, vật lực và tài lực của nhà trường giúp cho nhà trường phát triển ổn định, bền vững đạt hiệu quả cao nhằm thực hiện được mục đích giáo dục theo cơ chế thị trường trong xu thế toàn cầu hoá.

5.2. Kiểm soát giáo dục

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước muốn kiểm soát được sự phát triển của giáo dục, trước hết nhà nước phải có quyền uy và nhất là phải có năng lực. Nhà nước kiểm soát giáo dục theo bốn nội dung:

(1) Kiểm soát cơ cấu hệ thống giáo dục để luôn đảm bảo tính cân đối, sự phù hợp và hài hoà với nhu cầu xã hội và nhu cầu của từng thành viên trong xã hội.

(2) Kiểm soát hành chính giáo dục, tức là kiểm soát hoạt động quản lý hành chính giáo dục theo thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với phân cấp quản lý giáo dục triệt để theo hướng giao quyền tự chủ và trách nhiệm tối đa cho các cơ sở giáo dục.

(3) Kiểm soát kinh tế giáo dục trên cơ sở nghiên cứu tính hiệu quả của đầu tư cho giáo dục, điều kiện môi trường cho phát triển giáo dục.

(4) Kiểm soát hoạt động dạy và học. Cần phối hợp hài hoà việc dạy học của giáo viên và việc học tập của học sinh. Cần xác định đúng vị trí của giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động dạy học, còn học sinh là chủ thể của việc học tập. Trên cơ sở này mà định ra các yêu cầu chuẩn mực cũng như chế độ chính sách đãi ngộ thích hợp với người dạy và người học, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong cả dạy và học giúp cho giáo dục có chất lượng ngày một cao và đáp ứng được yêu cầu xã hội cũng như nhu cầu người học.

5.3. Tác dụng của kiểm soát giáo dục trong nền kinh tế thị trường

Với mục tiêu giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần coi trọng công tác kiểm soát giáo dục theo các thành tố:

(1) Đảm bảo cho phát triển giáo dục phù hợp và hài hoà với tiến trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

(2) Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và thị trường lao động (thế giới việc làm) phải tương thích. Nhân lực do hệ thống giáo dục cung ứng chẳng những phải được nền kinh tế trung ương mà cả nền kinh tế từng địa phương chấp nhận. Nói rõ hơn nguồn nhân lực được đào tạo phải đủ năng lực thích ứng với thế giới việc làm luôn biến đổi trong kinh tế thị trường.

(3) Thể chế giáo dục và thể chế phát triển kinh tế phải tương đồng, trong đó quan trọng là tổ chức hoạt động giáo dục phải phù hợp với hoạt động kinh tế từ mục tiêu, mục đích đến phân cấp quản lý và lưu thông phân phối trong giáo dục.

(4) Giáo dục giúp cho người lao động có tăng thu nhập, người có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn cao hơn, tay nghề giỏi hơn thì lợi ích kinh tế sẽ lớn hơn.

(5) Phân phối đầu tư trong hệ thống giáo dục cần hài hoà, nhưng theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội cần phân bổ đầu tư có trọng điểm. Trong bối cảnh hiện nay việc đầu tư cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cần được quan tâm hàng đầu, vì muốn cạnh tranh thắng lợi trong phát triển kinh tế cần có nguồn nhân lực dồi dào và giỏi. Nguồn nhân lực này sớm xuất hiện nhờ đẩy mạnh cạnh tranh trong giáo dục. Nhà nước cần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở làm giáo dục, giữa những người được tiếp nhận giáo dục. Không làm như vậy, chắc chắn kinh tế sẽ chậm phát triển. Ngày nay sự phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã minh chứng: quốc gia nào có nền giáo dục đại học và chuyên nghiệp tiên tiến, hiện đại, quốc gia ấy hẳn có nền kinh tế phát triển và giàu mạnh. Quan hệ giáo dục - nhân lực - khoa học công nghệ - sản xuất là quan hệ hữu cơ và là quan hệ trực tiếp. Do vậy chỉ có phát triển giáo dục nói chung và ở thời điểm hiện tại là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp thì mới có thể thoả mãn nhu cầu nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Kiểm soát giáo dục trong nền kinh tế thị trường cần tuân theo quy luật giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục trong kiểm soát giáo dục phải lấy giáo dục vì sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và giáo dục vì sự phát triển của từng thành viên trong xã hội. Hai giá trị này là hai giá trị cơ bản mà giáo dục phải đạt được. Giáo dục là công cụ của nhà nước. Nhà nước là người quản lý, là người kiểm soát, là người đầu tư chính cho giáo dục phát triển. Giáo dục phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và khi kinh tế - xã hội phát triển sẽ có tác động tạo ra những tiền đề giúp cho giáo dục phát triển. Giáo dục vì sự phát triển cho từng thành viên trong xã hội chính là mối quan tâm của giáo dục đến sự phát triển toàn diện của mỗi người để đảm bảo đời sống của mỗi người ngày một hạnh phúc hơn.

5.4. Quản lý nhà nước về giáo dục đảm bảo hiệu quả trong cạnh tranh kinh tế

Ngày nay cạnh tranh giữa các quốc gia thực chất là cạnh tranh về sự phát triển giáo dục. Giáo dục làm ra và quyết định trình độ nhân lực của từng quốc gia và nhân lực giỏi sẽ quyết định sự tiên tiến và hiện đại về khoa học và công nghệ, từ đó dẫn đến tốc độ phát triển kinh tế nhanh hay chậm của mỗi nước. Trong giáo dục có hai cơ cấu quan trọng là cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề. Quản lý nhà nước về giáo dục phải biết phân bổ hợp lý hai cơ cấu này. Quản lý phát triển các cơ cấu trên phải bám sát yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường, nếu không sẽ không những không giúp được kinh tế phát triển nhanh, mà ngược lại còn gây nhiều khó khăn cho kinh tế phát triển. Hiện nay nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự nghiệp này chỉ có thể thành công khi có được nền giáo dục trình độ cao, có cơ cấu hợp lý để giáo dục nghề nghiệp và nhất là giáo dục đại học có được một vị trí quan trọng. Sự cạnh tranh quốc tế là sự cạnh tranh nội lực của từng đất nước, là sự cạnh tranh khoa học kỹ thuật và công nghệ. Ngày nay quốc gia nào có nền khoa học - kỹ thuật - công nghệ phát triển tiên tiến, hiện đại thì quốc gia ấy có nhiều tiền đề thắng lợi trong cuộc cạnh tranh quốc tế. Nói rõ hơn, cạnh tranh khoa học - kỹ thuật - công nghệ thực chất là cạnh tranh nhân lực, nhân tài và chính là cạnh tranh giáo dục. Quản lý nhà nước về giáo dục trong giai đoạn hiện nay cần làm xuất hiện nhanh chóng một đội ngũ nhân lực trình độ cao có chất lượng trong một nền giáo dục trình độ cao. Nước ta đang thực thi hiện đại hoá giáo dục theo hướng là công cụ hữu hiệu của hiện đại hoá đất nước, song kết quả chưa như ý muốn. Nguyên nhân chủ yếu là do quản lý nhà nước. Quy mô giáo dục ngày càng lớn, đặc biệt trong những năm đổi mới. Sự phân hoá giáo dục ngày cũng càng rõ rệt, do vậy sự thể hiện quyền lực của nhà nước trong quản lý giáo dục để đảm bảo cạnh tranh giáo dục lành mạnh giữa các loại hình giáo dục và giữa các cơ sở giáo dục. Muốn vậy cần đáp ứng các điều kiện sau:

(1) Nhà nước cần có luật pháp, chính sách phát triển giáo dục phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

(2) Vận hành quyền lực quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở có nghiên cứu, khảo sát, điều tra hiện trạng giáo dục, để tránh tuỳ tiện, chủ quan với ý thức là phát triển giáo dục như thế nào thì có lợi nhất cho nội lực đất nước và cho cạnh tranh quốc tế. Để giáo dục trì trệ hoặc ngược lại phát triển giáo dục "không kiểm soát" đều mang lại những hậu quả tai hại cho đất nước. Đặc biệt đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp vốn luôn có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, nhất thiết phải chiếm vị trí quan trọng trong kết cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cần được coi là lực lượng tham gia trong cấu phần lực lượng sản xuất. Ngày nay thế giới đã minh chứng thành công của một đất nước không thuộc về dân số nhiều hay ít, mà thuộc về đất nước có nền giáo dục phát triển. Giáo dục nước ta trong mọi tình huống, nhất thiết luôn phải phát triển nhanh, phát triển liên tục, không thể thụt lùi hoặc đứng tại chỗ. Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường cần tăng cường quản lý, song nhất thiết phải đảm bảo quyền tự chủ và tính trách nhiệm cao nhất cho các cơ sở giáo dục.

5.5. Đầu tư cho giáo dục

Giáo dục là ngành sản xuất phi vật chất, nhưng giáo dục sản xuất và tái sản xuất năng lực lao động cho xã hội. Do vậy, nhà nước phải quản lý được nguồn vốn cho giáo dục, có nghĩa là tạo cơ chế để có nguồn vốn đa dạng và phân chia sử dụng nguồn vốn hợp lý và có hiệu quả. Nhu cầu học tập của con người là vô hạn, mà nguồn kinh phí cho giáo dục là hữu hạn. Nguồn kinh phí này cần được phân phối hợp lý và có hiệu quả trước hết đối với các trình độ, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, với phát triển giáo dục các địa phương, với cơ cấu ngành nghề, trường học. Trong nền kinh tế thị trường đầu tư cho giáo dục là đầu tư mang tính tiêu thụ trực tiếp, đầu tư mang tính sản xuất gián tiếp, đầu tư mang tính tiêu thụ hữu hình, đầu tư mang tính sản xuất tiềm tàng, đầu tư mang tính tiêu thụ hiện tại, đầu tư mang tính sản xuất của ngày mai, đầu tư mang tính tiêu thụ hữu hạn và đầu tư mang tính sản xuất mở rộng. Với những đặc điểm này, trong quản lý Nhà nước cần thấy đầu tư cho giáo dục có nhiều hiệu quả, hiệu quả cao, hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài.

Thay cho lời kết

Giáo dục luôn chịu sự tác động của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đồng thời giáo dục cũng giữ vị trí hàng đầu trong thúc đẩy một cách có hiệu quả sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngày nay ở tất cả các quốc gia trên thế giới đã đều đưa giáo dục lên vị trí quốc sách hàng đầu và thực sự coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và thậm chí còn nhìn nhận giáo dục cũng là một ngành sản xuất, ngành sản xuất đặc biệt. Quản lý giáo dục một mặt là nhân tố then chốt đảm bảo sự thành công và bền vững của phát triển giáo dục, mặt khác nó lại chịu sự tác động của loạt các yếu tố về mô hình kinh tế, mức độ phát triển kinh tế, sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, truyền thống giáo dục và hội nhập quốc tế v.v...

Với quan niệm giáo dục là một loại hình dịch vụ xã hội, mô hình được đặc trưng bởi cơ chế phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý toàn bộ các loại hình giáo dục ở địa phương kể cả giáo dục đại học, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, hoạch định và thực thi kế hoạch chiến lược về giáo dục của địa phương mình. Các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các trường đại học có quyền tự chủ rất cao về mọi mặt trong khuôn khổ luật pháp của quốc gia và của địa phương. Chính phủ và các cơ quan quản lý giáo dục quốc gia có vai trò hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược và các mục tiêu phát triển giáo dục quốc gia, hỗ trợ tài chính và quản lý các chương trình phát triển giáo dục quốc gia, xây dựng và ban hành các chuẩn mực quốc gia về giáo dục.

Trong nền kinh tế kiểu này thì nhân lực, nhân tài cũng cần được đào tạo và sử dụng theo cơ chế thị trường. Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường để có thể kịp thời tiến hành điều tiết. Việc xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, cơ cấu nhân lực, nhân tài và thiết kế mạng lưới cơ cấu trường học, xác định chuyên ngành, nội dung, chương trình... đều không tồn tại trong một kế hoạch mang tính bất di bất dịch, mà là căn cứ vào nhu cầu của thị trường để đi đến quyết định. Do vậy, quản lý giáo dục cũng được quyết định theo các đặc trưng cơ bản sau: Triệt để phân cấp quản lý, giao quyền tự trị cho nhà trường, nhà trường hoàn toàn tự quyết định trong việc mở ngành, tuyển sinh, sử dụng chương trình, giáo trình, nhân sự, tài chính...

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đa thành phần ở nước ta, một mặt tạo ra những nguồn lực mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế, một mặt khác cũng đặt ra nhu cầu mới về đa dạng giáo dục - đào tạo của các tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế trong xã hội. Chính sách bao cấp về giáo dục - đào tạo đã tỏ ra không thích ứng với những đòi hỏi mới của đời sống xã hội. Do vậy trong quản lý giáo dục đã chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo đáp ứng không chỉ cho nhu cầu nhà nước, mà cho nhu cầu toàn xã hội; người đi học phải đóng học phí, bãi bỏ chế độ phân phối cứng nhắc học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, cho phép và mở rộng từng bước phát triển các trường ngoài công lập như dân lập, tư thục, các trường liên doanh với các tổ chức quốc tế và các trường 100% đầu tư vốn từ nước ngoài. Đây coi như một bước chuyển quan trọng của quản lý phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các loại hình trường, cơ sở giáo dục - đào tạo ngoài công lập từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đã mang lại một diện mạo mới cho sự phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo ở nước ta không chỉ ở khía cạnh đa dạng loại hình, huy động thêm nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục mà còn tạo tiền đề thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục, từng bước hình thành thị trường giáo dục - đào tạo có định hướng trong phát triển nguồn nhân lực.

Giáo dục - đào tạo là nhu cầu, quyền lợi cơ bản của mọi thành viên trong xã hội, do đó chính sách quản lý phải bảo đảm sự công bằng và tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người trong giáo dục. Chính sách quản lý này nhất thiết phải nhất quán, đặc biệt nền kinh tế thị trường nhiều thành phần đang hàng ngày tạo ra khoảng cách thu nhập ở các tầng lớp dân cư và nảy sinh những tiêu cực trong xã hội. Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương chính sách về miễn giảm học phí cho các đối tượng chính sách; lập quỹ cho vay đối với học sinh nghèo; tăng đầu tư cho giáo dục miền núi và các vùng sâu, vùng xa vùng khó khăn, cho các dân tộc ít người... Việc chuyển từ chính sách bình quân, cào bằng sang chủ trương công bằng và bình đẳng trong giáo dục - đào tạo đã và đang tạo ra những điều kiện mới, động lực mới cho công cuộc phát triển giáo dục - đào tạo ở nước ta.

Tóm lại, quản lý giáo dục trong nền kinh tế thị trường là tạo động lực cho giáo dục phát triển nhanh, mạnh, phát triển liên tục và luôn phù hợp và hài hoà với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Quản lý giáo dục coi trọng sự dân chủ, bình đẳng, cạnh tranh, xã hội hoá với những chính sách thông thoáng giúp cho từng cơ sở giáo dục chủ động, sáng tạo tự xây dựng thương hiệu của mình ở trong nước cũng như trên thế giới. Quan trọng hơn cả, quản lý giáo dục phải lấy hiệu quả làm đầu. Hiệu quả là mục tiêu quan trọng số một của quản lý giáo dục. Nhà nước cần có chính sách hợp lý, kịp thời và phù hợp để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu và là động lực phát triển kinh tế - xã hội./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chỉ thị số 02/CT-TTG ngày 22.01.2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 29.10.2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về giáo dục và đào tạo.
  2. Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 30.5.2012 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực và đào tạo theo nhu cầu xã hội giai đoạn 2011-2020.
  3. Nguyễn Kim Dung (2009), Đánh giá thực trạng phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập quốc tế.
  4. Vũ Ngọc Hải (2004), Dịch vụ giáo dục, Tạp chí Phát triển Giáo dục số 11.2004.
  5. Vũ Ngọc Hải (2005), Giáo dục Việt Nam và tác động của WTO, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 2.2005.
  6. Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2007), Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa, NXB Giáo dục, TP. Hồ Chí Minh.
  7. Phan Văn Kha (2006), Phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Tạp chí Giáo dục số 14.2006.
  8. Chử Hồng Khởi (2006), Con đường hiện đại hoá giáo dục (Người dịch: Bùi Đức Thiệp, Nguyễn Đình Kế, Lê Thanh Thuỳ Dương), NXB Giáo dục, Hà Nội.
  9. Nguyễn Thiện Nhân (2007), Thực trạng giáo dục Việt Nam, cơ hội và thách thức đối với giáo dục Việt Nam khi gia nhập WTO, Báo cáo tại cuộc tọa đàm về "Giáo dục và Ðào tạo Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới", Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam.
  10. Trần Quốc Toản (2008), Phát triển Giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập quốc tế.