Tin tức - Sự kiện

VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO TRỰC THUỘC BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

31 Tháng Bảy 2018          84 lượt xem

        I. VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THƯ VIỆN, TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC, HỌC VIỆN VÀ CAO ĐẲNG

          1. Vai trò và nhiệm vụ của Thư viện, Trung tâm Thông tin - Thư viện

          Thư viện, Trung tâm Thông tin - Thư viện (TV) trường Đại học, Học viện và Cao đẳng (nhà trường) là một trong những yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục và đào tạo, TV nhà trường là bộ phận không thể thiếu trong việc hình thành môi trường văn hóa học đường. Chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc và Ban Giám hiệu về công tác Thông Tin - Thư viện. Tổ chức lưu trữ và bổ sung, bảo quản, tu sửa, sao chép, in ấn tài liệu, sách, báo, tạp chí, giáo trình, sách tham khảo, luận văn, luận án, tài liệu điện tử, mạng Internet... phục vụ cho người dùng tin. Hỗ trợ các công tác hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo và nghiên cứu khoa học của giảng viên, sinh viên trong nhà trường và học viện cũng như các đơn vị bạn. Đồng thời TV nhà trường còn triển khai ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ và quản lý của nhà trường thông qua việc sử dụng và khai thác các loại tài liệu có trong TV. Như vậy, TV nhà trường trong các cơ sở đào tạo là nơi cung cấp các dịch vụ học tập, sách và các nguồn tư liệu khác tạo điều kiện cho các thành viên của cơ sở đào tạo trở thành những người biết suy nghĩ quyết đoán và biết sử dụng các dạng thông tin khác nhau một cách hiệu quả. TV nhà trường trong các cơ sở đào tạo đã kết nối với mạng TV và thông tin rộng lớn, hoạt động phù hợp với các nguyên tắc trong tuyên ngôn của UNESCO về thư viện công cộng.

         Nhiệm vụ của các TV trong nhà trường được thể hiện trên các nội dung cơ bản sau:

        a) Tham mưu giúp Giám đốc, Hiệu trưởng nhà trường xây dựng quy hoạch, kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của TV; tổ chức điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong nhà trường;

        b) Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường; thu nhận các tài liệu do nhà trường xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khóa luận, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ của cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, chương trình đào tạo, giáo trình, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhà trường, các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện;

        c) Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý tài liệu; xây dựng hệ thống tra cứu thích hợp; thiết lập mạng lưới truy nhập và tìm kiếm thông tin tự động hóa; xây dựng các cơ sở dữ liệu; biên soạn, xuất bản các ấn phẩm thông tin theo quy định của pháp luật;

      d) Tổ chức phục vụ, hướng dẫn cho bạn đọc khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện thông qua các hình thức phục vụ của TV phù hợp với quy định của pháp luật;

        đ) Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin vào công tác TV;

        e) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ TV để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác;

        g) Tổ chức, quản lý cán bộ, tài sản theo sự phân cấp của nhà trưởng; bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản khác của TV; tiến hành thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu lạc hậu, hư nát theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

        h) Mở rộng hợp tác với các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế về lĩnh vực thông tin - thư viện; tham gia các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ với hệ thống TV trong cả nước nhằm thúc đẩy phát triển sự nghiệp TV; liên kết, hợp tác với các hệ TV công cộng, TV chuyên ngành, đa ngành trong và ngoài nước để phối hợp bổ sung và trao đổi tài liệu, chia sẻ nguồn lực thông tin, dữ liệu biên mục, tổ chức dịch vụ mượn liên TV, dịch vụ cung cấp thông tin qua mạng theo quy định của pháp luật và quy định của từng nhà trương;

        i) Thực hiện báo cáo tình hình hoạt động hàng năm và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch… hoặc các Bộ, ngành, đơn vị có liên quan.

        II. THỰC TRẠNG THƯ VIỆN, TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC, HỌC VIỆN VÀ CAO ĐẲNG TRỰC THUỘC BỘ

        1. Thực trạng Thư viện, Trung tâm Thông tin - Thư viện tại các nhà trường

       Để đảm bảo chất lượng hoạt động của hệ thống TV nhà trường, trong những năm qua Đảng, nhà nước và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản giúp cho hệ thống TV nhà trường có một vị trí quan trọng trong cơ cấu nhà trường: Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XIII), kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012; Pháp lệnh Thư viện năm 2000 ban hành ngày 28/12/2000; Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động Thư viện trường Đại học; Quyết định số 2345/QĐ-BVHTTDL ngày 29/6/2009 về việc ban hành Thông tư liên tịch giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quản lý  thư viện trường đại học và Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Điều lệ trường đại học, tại điều 18, khỏan 1 quy định: “Thư viện, trung tâm thông tin tư liệu của nhà trường có nhiệm vụ cung cấp các thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên; lưu trữ bản gốc các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã bảo vệ tại trường, các kết quả nghiên cứu khoa học, các ấn phẩm của trường. Thư viện, trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do Ban Giám hiệu ban hành, phù hợp với pháp luật về TV, pháp luật về lưu trữ và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan”.

Hàng năm, các TV nhà trường luôn bổ sung tài liệu mới làm cơ sở cho việc phục vụ học tập và nghiên cứu. Việc bổ sung tài liệu đưa vào TV nhà trường phải theo đúng danh mục tài liệu được Ban Giám hiệu duyệt hàng năm theo kế hoạch. Vốn tài liệu của mỗi TV nhà trường đều được chia thành 3 bộ phận: giáo trình và sách chuyên khảo, sách nghiệp vụ cho giảng viên, sinh viên và các nguồn tài liệu tham khảo các lĩnh vực liên quan đến từng chuyên ngành đào tạo của mỗi cơ sở.

         2. Đội ngũ người làm thư viện trong các nhà trường và chế độ

Về chất lượng, trình độ cán bộ tương đối đồng đều. Nhiều cán bộ được đào tạo cơ bản chuyên ngành thông tin - thư viện, số cán bộ có trình độ đại học và thạc sỹ chiếm 2/3 số cán bộ TV. Hàng năm, cán bộ thư viện đều được tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ do Vụ Thư viện, Vụ Đào tạo của Bộ VHTTDL tổ chức.

Người làm công tác thư viện ngoài chế độ lương theo ngạch, bậc và hệ số thì một số thư viện nhà trường có áp dụng chi phụ cấp độc hại cho cán bộ thư viện theo Thông tư số 26/2006/TT-BVHTT ngày 21/02/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin về việc hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa thông tin. Theo đó, ngoài hệ số lương cơ bản mỗi cán bộ làm tại các TV nhà trường được hưởng thêm một khoản phụ cấp theo Thông tư số 26/2006/TT-BVHTT ngày 21/02/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin, cụ thể: được bồi dưỡng bằng hiện vật 4000đ/ngày/người được 88.000đ/người/tháng; phụ cấp độc hại với hệ số 0,2 mức lương tối thiểu chung hiện tại là 260.000đ đồng/người/tháng. Về nguồn kính phí chi cho hoạt động thường xuyên theo kế hoạch dành cho các hoạt động TV nhà trường (không bao gồm tiền lương) hàng năm bình quân 120 triệu đối với TV trường đại học, học viện và 80-90 triệu với TV trường cao đẳng. Số kinh phí này cũng còn khiêm tốn  so với yêu cầu hoạt động hiện nay của các TV nhà trường.

        3. Cơ sở vật chất của thư viện nhà trường

Hiện nay, nhìn chung, cơ sở vật chất của nhiều TV nhà trường đã được quan tâm trang bị, tuy nhiên các trang thiết bị chuyên dụng chưa được đầy đủ. Đa số các TV nhà trường đã kết nối mạng và xây dựng được cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của sinh viên nhà trường. Về cơ cấu tổ chức cũng đã được quan tâm hoàn thiện, tuy nhiên trong thời gian tới cần có kế hoạch để bổ sung, hoàn thiện đáp ứng nhu cầu phát triển, phục vụ người đọc, người học.

        4. Hoạt động của thư viện nhà trường

         Đi đôi với sự phát triển của nhà trường, nội dung hoạt động của các hệ thông TV nhà trường cũng không ngừng được cải tiến, ngày càng đa dạng, phong phú.

        Hình thức phục vụ ngày càng mở rộng. Ngoài việc phục vụ đọc tại chỗ, các TV nhà trường còn cho giảng viên và sinh viên mượn tài liệu về nhà, lên giảng đường. Phòng đọc tài liệu của giảng viên và sinh viên đang dần được phát triển, nhu cầu đọc trong TV nhà trường ngày càng được nâng lên.

        Hàng năm đến Ngày Sách Việt Nam (21 tháng 4 hàng năm) các TV nhà trường thường tổ chức các cuộc thi theo chủ đề “Sinh viên kể chuyện theo sách”, “Người đọc sách nhanh nhất”, “Giảng viên thư viện giỏi”… Các cuộc thi này thu hút được đông đảo giảng viên và sinh viên của nhà trường tham gia, nhất là hai trường có đào tạo ngành thư viện (Trường ĐHVH Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Những cuộc thi này tạo nên sự chuyển biến trong nhận thức cũng như hành động của xã hội, của ngành giáo dục đối với TV nhà trường.

      III. YÊU CẦU PHÁT TRIỂN  THƯ VIỆN NHÀ TRƯỜNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

       Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”. Như vậy, muốn làm được điều này vai trò của hoạt động TV nhà trường vô cùng quan trọng. Muốn vậy, để phát triển TV nhà trường tương xứng với vai trò của nó là việc làm cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, nhiều TV nhà trường hiện nay còn một số hạn chế về số lượng vốn tài liệu, kinh phí hoạt động và cơ sở vật chất đã làm anh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động của TV. Vì vậy, muốn phát triển TV nhà trường để đáp ứng yêu cầu của xã hội và giáo dục hiện nay phải đảm bảo đồng bộ và hài hòa ở các mặt sau:

        1. Chất lượng hoạt động trong thư viện nhà trường (in thường)

       Thư viện cần được đầu tư đúng mức để trở thành một trung tâm thông tin, không chỉ thu thập thông tin mà còn phải biết xử lý các dạng thông tin theo hướng tích cực, giúp độc giả tiếp cận tri thức một cách nhanh nhất, chính xác nhất, thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của người tìm tin. Đầu tư cho TV cũng chính là đầu tư cho một trong những cơ sở vật chất dùng chung có tính nền tảng trong nhà trường, tác động tích cực đến hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.

          2. Tăng cường cơ sở vật chất cho thư viện nhà trường

        Quan tâm đến việc đầu tư các điều kiện thiết yếu cho TV nhà trường, đảm bảo các TV thực hành phải có đủ diện tích theo hướng dẫn của Thông tư số 56/2003/TT- BVHTT ngày 16/9/2003 của Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập thư viện và thủ tục đăng ký hoạt động thư viện.

       Thường xuyên bổ sung tài liệu cho hệ thống TV nhà trường bao gồm sách đối với tất cả các TV và băng hình, đĩa hình, máy quay, thẻ nhớ, hình ảnh (đối với TV Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, TV Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam, TV Trường ĐH Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, TV Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, TV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, TV Trường CĐ Du lịch Hà Nội…).

       Tiếp tục từng bước trang bị thêm nhiều máy tính và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động TV nhà trường đặc biệt công nghệ 4.0 hiện nay, kết nối Internet theo chương trình phát triển công nghệ thông tin của toàn ngành văn hóa và giáo dục để phục vụ cho giảng viên và sinh viên trong nhà trường.

        3. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ thư viện đủ về số lượng và đạt yêu cầu về chất lượng

       Trong tất cả các yếu tố góp phần làm tăng chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý và khai thác thông tin TV, yếu tố con người là quan trọng nhất và mang tính quyết định. Cán bộ TV là cầu nối giữa nguồn tài nguyên thông tin và người dùng tin. Hướng dẫn cụ thể sinh viên phương pháp nghiên cứu, tìm tư liệu, cung cấp thông tin thư tịch để sinh viên hứng khởi, ham thích trong công việc học tập và nghiên cứu khoa học.

      Các cán bộ TV hướng dẫn người đọc sách sử dụng sách và khai thác các nguồn thông tin khác, từ tiểu thuyết đến sách tư liệu, từ các xuất bản phẩm đến tài liệu điện tử, cả tại chỗ lẫn truy cập từ xa. Ngoài ra, còn có các tài liệu bổ trợ, sách giáo khoa, sách giảng viên và sách về phương pháp luận.

       Thực tế đã cho thấy khi cán bộ TV và giảng viên cùng hợp tác thì sinh viên sẽ đạt được trình độ cao hơn về khả năng đọc, viết, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, các kỹ năng khai thác thông tin và sử dụng công nghệ thông tin giao tiếp…

        Với vai trò đóng góp vào sự đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập tại nhà trường, cán bộ TV phải chủ động giới thiệu, cung cấp nguồn thông tin phong phú, đa dạng. Đồng thời, cán bộ TV phải tạo môi trường thân thiện, thông thoáng, chuyên nghiệp không chỉ bằng khả năng chuyên môn, nghiệp vụ giỏi mà còn bằng khả năng giao tiếp tốt đặc biệt là ngoại ngữ.

      Bên cạnh đó, cán bộ TV phải luôn có ý thức trách nhiệm động viên, nuôi dưỡng thói quen và sự hứng thú đọc sách cho sinh viên. Cán bộ TV phải tìm những cơ hội để có quan hệ mật thiết hơn với các giảng viên, sinh viên nhằm cung cấp thông tin, hỗ trợ họ trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại TV.

        Cán bộ TV phải có khả năng lập kế hoạch và hướng dẫn những kỹ năng xử lý thông tin cho cả giảng viên và sinh viên. Vì thế họ cũng rất cần phải được tiếp tục đào tạo và phát triển nghiệp vụ chuyên môn của mình./.

                                                                                                                                                    TS. Đoàn Tiến Lộc

                                                                                                            Chuyên viên chính Vụ Đào tạo, Bộ VHTTDL

 

           TÀI LIỆU THAM KHẢO

       1. Luật Giáo dục đại học, Luật số 08/2012/QH13 Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khóa XIII), kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012.

       2. Pháp lệnh Thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 của Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam.

       3. Nghị định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ về quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện.

       4. Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Điều lệ trường đại học.

          5. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương VIII (Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

         6. Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành về việc Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học

          7. Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

        8. Thông tư số 26/2006/TT-BVHTT ngày 21/02/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin về việc hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa thông tin.