Tin tức - Sự kiện

MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MỸ THUẬT ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

06 Tháng Chín 2019          674 lượt xem

1. Đổi mới chương trình đào tạo      

Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực người học để hướng tới mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Tuy nhiên, hiện nay chương trình đào tạo của hầu hết các trường đại học vẫn là chương trình theo định hướng tiếp cận nội dung. Vì vậy, đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục, các trường cần đổi mới chương trình theo định hướng tiếp cận năng lực mà trước hết phải xác định chuẩn năng lực đầu ra của sinh viên (SV), từ đó mới xác định thời lượng, nội dung khối kiến thức phù hợp đảm bảo cho SV ra trường đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, phương thức đào tạo cần chú trọng đến việc trải nghiệm thực tiễn giáo dục ở nhà trường phổ thông qua liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các trường phổ thông thực hành.

Bên cạnh đó, đáp ứng yêu cầu của đổi mới GDPT và nhu cầu của giáo viên (GV), chương trình đào tạo không chỉ cập nhật, điều chỉnh giúp GV đáp ứng được chuẩn năng lực nghề nghiệp của quốc gia (năng lực giáo dục, năng lực dạy học, năng lực đánh giá, năng lực phát triển nghề nghiệp, năng lực hoạt động xã hội, năng lực giao tiếp, năng lực tìm hiểu môi trường giáo dục, năng lực tìm hiểu người học, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) mà còn phải hướng đến chuẩn quốc tế, theo xu hướng dạy học của thế giới hiện nay. Ta thấy, chương trình đào tạo GV theo chuẩn quốc tế của CIE (University of Cambridge International Examination - Đại học Khảo thí Cambridge) tập trung vào phát triển các kĩ năng nghề nghiệp cho GV như: Kĩ năng lập kế hoạch dạy học (chương trình học hoặc bài học) dựa trên cơ sở xác định nhu cầu, năng lực của HS, xác định mục tiêu học tập; kĩ năng triển khai dạy học tích cực (hỗ trợ việc học tập tích cực của người học); kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và kĩ năng đánh giá cải tiến việc dạy học.

Các kĩ năng này giúp GV thực hiện hiệu quả hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh,  thực hiện quy trình dạy học khoa học và chuyên nghiệp.

Vì vậy, chương trình đào tạo của các trường đại học và cơ sở đào tạo GV cần luôn cập nhật những yêu cầu mới, xác định được chuẩn đầu ra rõ ràng, học tập và vận dụng linh hoạt kinh nghiệm của quốc tế để có thể đào tạo được đội ngũ GV có năng lực giáo dục và giảng dạy thế hệ trẻ thành những công dân toàn cầu.

2. Nghiên cứu, học tập mô hình đào tạo tiên tiến     

Hiện nay, công tác đào tạo GV chính quy tại các trường sư phạm đang được thực hiện theo hai mô hình: Mô hình song song truyền thống; mô hình kế tiếp. 

Thực tiễn cho thấy, mỗi mô hình đều có những ưu thế riêng trong đào tạo GV, việc thực hiện hai mô hình này sẽ tạo nên sự đa dạng trong phương thức đào tạo, hỗ trợ GV phát triển năng lực (PTNL) nghề nghiệp và chuyên môn sư phạm, tăng thêm sự lựa chọn cho SV muốn trở thành GV và theo kịp xu thế chung của giáo dục đại học trên thế giới. Hiện nay, mô hình đào tạo song song truyền thống đang được áp dụng phổ biến trong các trường/khoa sư phạm chuyên đào tạo GV ở nước ta. Với mô hình này, quá trình đào tạo GV được thực hiện trong 4 năm (cử nhân đại học) hoặc 3 năm (cử nhân cao đẳng), trong đó, việc đào tạo khoa học cơ bản và đào tạo nghiệp vụ sư phạm sẽ được tiến hành đồng thời. Mô hình này có ưu thế là người học sớm xác định được được mục tiêu học tập là trở thành GV và mục tiêu này liên tục được củng cố trong môi trường sư phạm thuận lợi đến hình thành năng lực và nhân cách của các chuyên gia giáo dục. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình đó là chậm chuyển đổi chương trình để thích ứng với thực tiễn.

Mô hình đào tạo kế tiếp là thực hiện khối kiến thức khoa học chuyên ngành trước, sau đó mới thực hiện khối kiến thức về nghiệp vụ sư phạm. Mô hình này cũng có những ưu thế nổi trội trong đào tạo GV có kiến thức chuyên môn vững vàng bởi những năm đầu sinh viên được đào tạo như một cử nhân các chuyên ngành khoa học cơ bản. Song điểm hạn chế của mô hình trên là chủ yếu cung cấp kiến thức khoa học cơ bản và bổ sung một số kiến thức khoa học sư phạm như Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn. Thời lượng phân bố cho các học phần về khoa học giáo dục, thực tập sư phạm chưa nhiều (tổ chức thực tập chỉ chiếm 3% nội dung đào tạo). Thực tế này chưa bảo đảm giáo sinh ra trường có đủ hiểu biết về hoạt động dạy - học, về kiến thức, kĩ năng nghiệp vụ, khả năng dạy học và xử lí các tình huống sư phạm ở trường phổ thông. Những kiến thức, kĩ năng này chỉ có thể hình thành vững chắc ở giáo sinh nếu như họ được học ngay tại trường phổ thông. Vì thế, SV sẽ phải mất thêm thời gian để hoàn thiện kĩ năng sau khi ra trường.

Mỗi mô hình đào tạo đều có ưu điểm và hạn chế riêng, dù chọn mô hình đào tạo nào, song song hay kế tiếp, thậm chí kết hợp cả hai mô hình thì vẫn cần đặc biệt quan tâm đến yếu tố gắn với thực tiễn phổ thông và rèn kĩ năng nghề bằng dạy học vi mô để PTNL nghề nghiệp cho SV.

Một số vấn đề nữa của thực trạng đào tạo GV hiện nay là chương trình đào tạo GV sư phạm ở nước ta chỉ gói gọn trong 4 năm học tại các trường đại học sư phạm mà chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng liên tục sau khi SV ra trường cũng như chưa có các chương trình cụ thể giúp xây dựng ý thức trách nhiệm, tình yêu nghề cho GV. Việc đào tạo GV phải là một quá trình liên tục, từ đào tạo trong trường đại học đến giai đoạn đầu mới vào nghề ở các trường phổ thông đến việc bồi dưỡng thường xuyên. Ba giai đoạn này phải được thực hiện liên tục tạo nên tổng thể thống nhất. Dù vậy, việc đào tạo GV mới chủ yếu tập trung ở giai đoạn đầu tiên - giai đoạn trong trường đại học còn hai giai đoạn sau hầu như chưa được chú trọng nên có thể khẳng định, tiến trình đào tạo GV của Việt Nam chậm đổi mới so với thế giới. Ở nhiều quốc gia hiện nay, mô hình GV phổ thông trực tiếp kèm cặp, hướng dẫn SV ngành sư phạm về kỹ năng, phương pháp dạy học, SV vừa học vừa thực hành liên tục, đan xen giữa một buổi lên lớp với một buổi thực tập, thực tế môi trường giảng dạy ở trường phổ thông. Bằng cách này, cả GV đã ra nghề và SV đang học nghề đều được rèn luyện trong môi trường chuyên môn để trưởng thành. Mô hình đó đã được rất nhiều quốc gia quan tâm và áp dụng.

3. Cân đối khối lượng kiến thức khoa học cơ bản và nghiệp vụ

Hiện nay, chương trình đào tạo GV ở các trường sư phạm chưa cân đối giữa đào tạo kiến thức khoa học cơ bản với đào tạo nghiệp vụ giảng dạy và bồi dưỡng ý thức trách nhiệm nghề nghiệp cho SV. Với tính chất đặc thù của các trường sư phạm là trường đào tạo nghề thì thời lượng cho nội dung thực tập sư phạm chưa thực sự tương xứng và ít hơn rất nhiều với các quốc gia có nền giáo dục sư phạm phát triển. Ví dụ: ở Anh, thời gian thực tập là 24 tuần nếu chương trình đào tạo là 3 năm; 32 tuần nếu đào tạo 4 năm; ở Pháp, Đức, Thổ Nhĩ Kì thời gian thực tập thường là 10-16 giờ/tuần. Đây thực sự là những thách thức cho các cơ sở đào tạo GV trong việc xây dựng và phát triển chương trình đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.       

Như vậy, có thể thấy, điểm yếu trong chương trình đào tạo GV của nước ta thể hiện sự hạn chế trong gắn kết đào tạo ở trường đại học với thực tiễn nghề nghiệp ở phổ thông.

Chương trình đào tạo hiện nay cũng chưa có những môn học, hoạt động cụ thể, chính thức để dẫn được đến những phẩm chất quan trọng của người GV như tình yêu nghề, ý thức trách nhiệm trong công việc. Theo đó, thời lượng dành cho khối kiến thức đào tạo năng lực sư phạm và thực tập, thực tế chuyên môn đề xuất chiếm khoảng 50% trong tổng số chương trình đào tạo. Điều này giúp SV có được những kiến thức và kinh nghiệm thực tế về chuyên môn, nghiệp vụ để có thể đảm nhận tốt công việc giảng dạy ở trường phổ thông. Bên cạnh đó, trong quá trình thiết kế chương trình đào tạo các học phần và chuyên đề về dạy học tích hợp cũng phải được chú trọng giúp SV tốt nghiệp ra trường có năng lực dạy học tích hợp và năng lực thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS. Việc đổi mới mô hình và chương trình đào tạo của các trường sư phạm cần quan tâm đến yếu tố này.

4. Bồi dưỡng, phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên

Muốn triển khai được đổi mới giáo dục thì công tác bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV một cách có hệ thống và chuẩn hóa là vô cùng cần thiết, tuy không dễ thực hiện. Bởi sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục phụ thuộc vào nhân tố chính là GV đang trực tiếp giảng dạy ở hệ thống các trường phổ thông. Muốn vậy, cần khảo sát, đánh giá lại năng lực GV một cách chính xác, khách quan trên cơ sở đối chiếu với yêu cầu của chương trình giáo dục mới để thấy được cái đang cần, đang thiếu của GV, từ đó xác định nội dung cần bồi dưỡng cho GV và xây dựng chương trình bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Việc bồi dưỡng có thể tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau: Hệ thống các chuyên đề bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cho GV theo chương trình phổ thông mới; cập nhật kết quả nghiên cứu mới và các nội dung mở rộng; hướng dẫn thực hiện cấu trúc chủ đề trên cơ sở lựa chọn kiến thức cơ bản hay nâng cao để phù hợp với năng lực HS; hướng dẫn thực hiện quy trình tổ chức dạy học khoa học và đặc thù bộ môn giúp GV thực hiện việc dạy học chuyên nghiệp hơn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và tập trung vào PTNLHS. Thực tế cho thấy, dù được đào tạo ở các trường sư phạm theo chương trình chung nhưng mức độ thành công của GV là không giống nhau; năng lực nghề nghiệp của GV cũng phân hóa khác nhau bởi qua quá trình công tác, phần lớn GV thực hiện dạy học theo kinh nghiệm, thói quen hoặc vì yêu cầu của nhà quản lý trực tiếp, chưa thực sự vì nhu cầu tự đánh giá cải tiến hay vì HS. Điều này không những làm hạn chế dần sự đổi mới, sáng tạo của mỗi GV mà còn là yếu tố trở ngại cho việc đổi mới giáo dục nói chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay lại càng cần sự đổi mới, sáng tạo của mỗi GV, không chỉ trong tư duy mà còn cả trong thực tế dạy học. Vì vậy, đào tạo lại qua tập huấn, bồi dưỡng có vai trò rất quan trọng giúp GV từng bước hoàn thiện và PTNL chuyên môn. Đây là công tác rất cần thiết và cần sự thống nhất từ nội dung, cách thức tập huấn cũng như sự phối hợp, hỗ trợ và thống nhất trong đánh giá của các cấp quản lý. Hơn nữa, khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng thường xuyên của mỗi GV cũng sẽ giúp họ có khả năng tự hoàn hoàn thiện, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn dạy học luôn cần sự đổi mới, sáng tạo hiện nay.

5. Kết luận

Chương trình môn Mỹ thuật tạo cơ hội cho giáo viên tiếp cận văn hóa, nghệ thuật dân tộc và thế giới trên cơ sở vận dụng những kiến thức cơ bản của mỹ thuật, kết hợp với khoa học giáo dục. Chương trình phải chọn lọc những kiến thức phù hợp với mục tiêu giáo dục đối tượng học sinh phổ thông, đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi học sinh và điều kiện dạy học. Tuy nhiên, đổi mới nhưng không có nghĩa là xây dựng lại từ đầu mà trên cơ sở kế thừa chương trình hiện hành để thiết kế chương trình phù hợp, tập trung vào những điểm mới phù hợp với bối cảnh xã hội và giáo dục hiện đại. Những điểm mới trong chương trình về mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, đánh giá sẽ là một trong những cơ sở để các trường sư phạm đổi mới chương trình đào tạo giáo viên mỹ thuật theo hướng tiếp cận năng lực người học và đưa ra những vấn đề về đào tạo giáo viên để đáp ứng sự đổi mới chương trình giáo dục mỹ thuật phổ thông hiện nay./.

                                                                                                                                                       HẢI LONG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục Mỹ thuật, Ban hành ngày 05/5/2006

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Dự thảo chương trình giáo dục Mỹ thuật, Ban hành ngày 28/12/2018.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Những vấn đề chung về phát triển chương trình đào tạo giáo viên, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lí cơ sở giáo dục (Tài liệu tập huấn cán bộ, giảng viên các cơ sở đào tạo giáo viên phổ thông về phát triển chương trình đào tạo, Hà Nội.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu tập huấn: Chương trình đào tạo và cấp bằng, chứng chỉ quốc tế của Đại học khảo thí Cambridge cho giáo viên và chuyên gia đào tạo, Hà Nội.

6. Đinh Quang Báo (chủ biên), (2016), Chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.