Tin tức - Sự kiện

TÍNH HIỆN ĐẠI TRONG KỊCH NÓI VIỆT NAM ĐỀ TÀI LỊCH SỬ

20 Tháng Mười 2019          411 lượt xem

Tính hiện đại là một phẩm chất của các tác phẩm văn học nghệ thuật phản ánh đúng tinh thần thời đại, đi cùng với xu thế phát triển của thời đại. Phẩm chất ấy khiến cho tác phẩm đi vào phản ánh những vấn đề mà mọi người trong mọi xã hội, mọi dân tộc đều quan tâm, cho dù đó là những câu chuyện về cuộc sống đương đại, hoặc những câu chuyện cũ từ thời cổ xưa. Tính hiện đại do đó là phẩm chất không phải chỉ có ở những tác phẩm văn học nghệ thuật đương đại. Dưới góc độ nào đó, tính hiện đại chính là mối dây liên hệ, là sự kết nối giữa tác phẩm văn học nghệ thuật với đời sống đương đại, là sự thẩm định sức sống của mỗi tác phẩm cùng với thời gian.

Đối với tác phẩm nghệ thuật về đề tài lịch sử nói chung và tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử nói riêng thì tính hiện đại luôn hiện hữu, song hành cùng với mỗi sự kiện, nhân vật lịch sử khi nó được tái hiện trên sân khấu hiện đại và gặp gỡ với khán giả đương đại. Bởi vì, thông qua tác phẩm, lịch sử không được tái hiện vì bản thân nó mà bao giờ cũng hướng tới đời sống đương đại. Nói cách khác, tính hiện đại chính là linh hồn, là lý do đưa nhân vật và câu chuyện lịch sử từ quá khứ trở về.

Tác phẩm kịch nói đề tài lịch sử được xem là có tính hiện đại khi: Vấn đề mà tác phẩm đặt ra được khán giả đương thời quan tâm, góp phần giải quyết những vấn đề nóng bỏng của đời sống đương thời; những sự kiện, bài học của lịch sử được lý giải dưới góc nhìn tiến bộ của con người hiện đại, thuyết phục được con người hiện đại, mang lại cái nhìn mới đối với sự kiện đã được sử sách ghi chép; mang dấu ấn sáng tạo, cách tư duy của con người hiện đại vào tác phẩm.

Sự hiện diện của tính hiện đại trong tác phẩm kịch nói đề tài lịch sử đã khẳng định sự vươn tới một tầm nhìn lịch sử, gắn kết được sự kiện lịch sử ở một thời với sự vận động liên tục của cả tiến trình lịch sử của tác phẩm. Từ đó, chứng minh tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử chính là hành trình tiếp tục chặng đường mà các sử gia dừng lại để tìm tòi, tiên nghiệm một sự thật còn thật hơn cả sự thật được ghi trong sử sách, đó là sự thật đó là sự thật theo lòng người, theo lẽ đời mà con người ở mọi thời đại khác nhau đều có thể đồng cảm, sẻ chia.  

Trong mỗi tác phẩm kịch nói về đề tài lịch sử, tính hiện đại hiện diện ở việc lựa chọn, tái hiện câu chuyện lịch sử, sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử của người nghệ sĩ sáng tạo. Theo đó, câu chuyện, sự kiện, nhân vật lịch sử được tái hiện và tư tưởng chủ đề tác phẩm là nơi in dấu rõ nét những sáng tạo của người nghệ sĩ, là nơi cách cảm, cách nghĩ của con người hiện đại đã chi phối hiện thực lịch sử. Sự chi phối này hiển nhiên sẽ tạo thành hai áp lực lớn, đó là sức hấp dẫn của tác phẩm và tính chân thực lịch sử trong tác phẩm…

Khi hiện diện ở đời sống hiện đại thì tác phẩm kịch nói đề tài lịch sử nào cũng ít nhiều mang trong nó tính hiện đại. Tuy nhiên, tính hiện đại khi đó sẽ có tác động ở hai chiều cạnh: tích cực và tiêu cực. Ảnh hưởng tích cực là khi những tìm tòi, khám phá của tác phẩm không những mang được dấu ấn thời đại mà còn lan tỏa được sức sống của vấn đề lịch sử đó tới hôm nay và cả mai sau. Ảnh hưởng tiêu cực là khi con người hiện đại áp đặt cách nghĩ, cách tư duy hiện đại lên mọi sáng tạo, khiến cho những hình dung về lịch sử mà tác phẩm thể hiện trở nên méo mó, thiếu thuyết phục.

Tính hiện đại luôn có sức hấp dẫn từ những tìm tòi, khám phá mà nó mang lại. Cách nhìn mới, quan điểm mới, cách thể hiện mới đối với một vấn đề của quá khứ hiển nhiên bao giờ cũng khiến nhiều người mong chờ. Trường hợp tác phẩm Vũ Như Tô (Tác giả Nguyễn Huy Tưởng, Đạo diễn Phạm Thị Thành, Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng) là một ví dụ.

Vũ Như Tô là một nhân vật lịch sử được ghi chép ngắn gọn trong Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn thế kỷ XIX rằng: Vũ Như Tô là một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp cây mía làm thành kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc, dâng lên nhà vua, nhà vua bằng lòng, phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc cung điện lớn có gác và khởi công làm Cửu Trùng Đài…

Khi vào kịch Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Như Tô trở thành câu chuyện đẫm màu sắc bi kịch gắn với số phận nhân vật chính Vũ Như Tô. Bị bắt về kinh phục tùng mệnh lệnh xây Cửu Trùng Đài của Lê Tương Dực, khi đang quyết liệt chống lại tham vọng của vua thì tại nơi xa hoa này, Vũ Như Tô đã gặp Đan Thiềm - người cung nữ có đôi mắt thâm quầng mà ông ngỡ tưởng là người trong túy hương mộng cảnh. Chính Đan Thiềm bằng sự chân thành của mình đã khai sáng cho ông: Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây… Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông… Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện…

Vũ Như Tô bắt tay xây dựng Cửu Trùng Đài trước sự phản đối quyết liệt của Trịnh Duy Sản. Cửu Trùng Đài cứ xây lại đổ, chết rất nhiều thợ, tốn rất nhiều sức người, sức của, dân chúng khắp nơi nổi loạn chống lại triều đình. Trịnh Duy Sản sau khi can ngăn vua không được đã dấy binh nổi loạn, giết Lê Tương Dực, đốt Cửu Trùng Đài, xử trảm Vũ Như Tô.

Nguyễn Huy Tưởng đã gửi vào câu chuyện lịch sử phê phán thói ăn chơi hưởng lạc của Lê Tương Dực dẫn đến cơ đồ sự nghiệp tan nát thông điệp về khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ - trí thức. Tác giả đã đặt vấn đề: Khát vọng sáng tạo và sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ quan hệ như thế nào với đất nước, với nhân dân? Đó là mối quan hệ thuận - nghịch, hay cả hai chiều thuận - nghịch? Nguyễn Huy Tưởng đã kể câu chuyện kịch bằng một giọng điệu có phần chua xót về một Vũ Như Tô tài hoa, yêu kiến thiết xây dựng nhưng cuối cùng đã bị hãm hại, về một thời mà mọi quyền tự do dân chủ đều bị bóp chết, kể cả quyền được sống. Ẩn phía sau bi kịch Vũ Như Tô là cả ước mơ, cả khát vọng cống hiến của Nguyễn Huy Tưởng giữa những tối tăm, ngột ngạt của những ngày ông đang sống. Ông không dấu giếm những dằn vặt của mình về nghệ thuật, về con đường đi của người nghệ sĩ, trí thức trước những bế tắc hiện thời.

Nguyễn Huy Tưởng đã mang đến câu chuyện lịch sử năm nào khát vọng vĩnh cửu của người nghệ sĩ chân chính. Ông đã gửi vào tác phẩm một cách tái hiện lịch sử mới mẻ, không đi theo những tác giả cùng thời là thi vị hóa hay thổi phồng quá khứ. Điều đó đã làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm, khiến cho sự hiện diện của nó trên sân khấu dù muộn hơn 54 năm kể từ ngày Nguyễn Huy Tưởng viết kịch bản mà vẫn gây được tiếng vang lớn, vẫn được người xem chờ đợi. Vấn đề mà vở diễn đặt ra vẫn nóng hổi tính thời sự, vẫn là những trăn trở đầy tâm huyết của những nghệ sĩ - trí thức chân chính.

Tính hiện đại bên cạnh việc mang đến dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ và sức sống cho tác phẩm thì hiển nhiên nó sẽ đặt vấn đề lịch sử được phản ánh trong tác phẩm trước thử thách của sự thật lịch sử. Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của sáng tạo và nghệ sĩ không phải là người chép sử trên sàn diễn, song không thể nhân danh sáng tạo để làm sai lệch lịch sử. Sáng tạo tác phẩm về đề tài lịch sử nếu không có được sự kết nối nhất định với lịch sử sẽ không đảm bảo tính chân thật lịch sử. 

Có thể thấy rằng, chính các nghệ sĩ sáng tạo là người đã mang đến câu chuyện lịch sử một sức sống mới, một sức lan tỏa mới tới đời sống đương đại. Khi câu chuyện lịch sử được tái hiện, nó chạm tới nhiều cung bậc cảm xúc của con người hiện đại. Hiện thực lịch sử đôi khi tự nó chưa thể nói lên điều gì mà nhờ có tác phẩm nghệ thuật cùng với những đóng góp của nghệ sĩ sáng tạo mà lịch sử được lên tiếng. Chính người nghệ sĩ đã gửi vào câu chuyện lịch sử tinh thần thời đại mình, cách cảm, cách nghĩ của con người hiện đại để những chuyện xưa tích cũ đó có thể đi cùng năm tháng.

Có thể thấy rằng, trong quá trình sáng tạo tác phẩm, bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng chịu sự chi phối của tính hiện đại. Vì dù muốn dù không, khi sáng tạo, người nghệ sĩ không thể sống ngoài thời đại của mình, cũng không tư duy ngoài khả năng của mình. Theo đó, tinh thần thời đại sẽ ùa vào phẩm, nó chi phối nghệ sĩ một cách vừa có ý thức, vừa vô thức. Sự chi phối này sẽ mang lại sức sống, hơi thở hiện đại cho tác phẩm, đồng thời cũng tạo áp lực về tính chân thực lịch sử của vấn đề lịch sử được phản ánh trong tác phẩm.

                                                                                                                                                             Hải Âu

Tài liệu tham khảo

1. Aristote (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội.

2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2000), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

3. Trúc Đường (1962), Quang Trung, Nxb Văn học, Hà Nội.

4. Ngô Phương Lan (2005), Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

5. Tovstonogov G. (1982), Tính hiện đại trong nghệ thuật sân khấu, Dương Ngọc Đức dịch, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hà Nội.

6. Nguyễn Đình Thi (1993), Tuyển tập kịch, Nxb Văn học, Hà Nội.