Tin tức - Sự kiện

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA VĂN CHƯƠNG KỊCH VỚI VĂN HỌC TỰ SỰ VÀ TRỮ TÌNH

20 Tháng Mười 2019          410 lượt xem

Trong mỗi thể loại văn học, nhà văn đều thông qua nhân vật để gửi những thông điệp nghệ thuật đến độc giả. Do đặc trưng của từng thể loại, con người - với tư cách là đối tượng muôn thuở của văn học nghệ thuật được khai thác theo từng khía cạnh khác nhau. Trong thơ,  con người - nhân vật trữ tình hiện lên chủ yếu ở khoảnh khắc xúc cảm. Trong kịch, con người - nhân vật hành động hiện lên ở thời điểm sóng gió nhất của số phận và bị cuốn rất nhanh vào trục xung đột - hành động của tác phẩm. Tự sự sở hữu sự vô tận của thời gian, không gian, cho phép người viết khai thác nhân vật một cách toàn diện, tỉ mỉ theo từng bước thăng trầm của số phận.

Bởi vậy, trong tự sự, ngôn ngữ người kể chuyện - được bộc lộ bằng hình thức văn xuôi, đóng vai trò tổ chức và chỉ đạo đối với các hình thức ngôn ngữ khác trong toàn tác phẩm. Nó là phương tiện để bộc lộ chủ đề và tư tưởng tác phẩm, khắc hoạ tính cách, dẫn dắt quá trình phát triển cốt truyện, thực hiện nhiệm vụ kết cấu tác phẩm, nó còn tác động đến thái độ của người đọc với đối tượng đang được miêu tả trong tác phẩm. Còn trữ tình, một thể loại lấy điểm tựa ở sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ trước cuộc đời lại đòi hỏi được thể hiện, được bộc lộ qua những sự chan hoà bộc bạch của tâm hồn cá thể với hình thức thơ, nó phát động ở nhà thơ những tình cảm từ trước tới nay vốn vẫn ẩn náu.

Kịch là một thể loại văn học viết cho sân khấu, diễn tả cuộc sống bằng hành động trong xung đột, thông qua ngôn ngữ văn chương đối thoại. Ở đó, con người, cảnh vật, đã được hiện tại hoá, nhân vật kịch sống, hành động bằng chính ngôn ngữ của mình. Đối thoại, đó là ngôn ngữ nhân vật và chỉ của nhân vật mà thôi. Trong kịch, loại trừ sự can thiệp của nhà văn. Bởi vậy, mà kịch vừa dễ để chân thực song cũng rất dễ giả tạo. Nhà viết kịch không thể can thiệp vào một đời sống đang hiện hình với đủ hỉ, nộ, ái, ố, kia. Nói cách khác, tác giả kịch không có chỗ đứng trong tác phẩm với tư cách là nhân vật trung gian, không thể mách bảo, giải thích, thậm chí giật dây nhân vật như tự sự. Cho dù, đi đến tận cùng bản chất, thì ngôn ngữ ấy vẫn là ngôn ngữ của nhà viết kịch, cần có phong cách của nhà viết kịch. Song nếu để lộ mình, thì coi như nhà viết kịch đã muôn phần thất bại. Còn với kịch, yếu tố tổ chức nên tác phẩm là lời nói của bản thân nhân vật, và lời nói ấy luôn phải đạt tới giá trị của văn chương đối thoại.

Về hình thức, đối thoại là một trong những đặc điểm cơ bản nhất, phân biệt kịch với các thể loại khác như thơ (trữ tình) và văn xuôi (tự sự). Với kịch, từ dòng mở đầu đến dòng kết thúc chỉ có đối thoại và chỉ đối thoại mà thôi. Những lời chua của tác giả không có tác dụng hình thành cốt truyện, cũng như tính cách nhân vật, mà chỉ có tác dụng đối với nghệ thuật biểu diễn, cho dù được tác giả viết bằng bất cứ hình thức ngôn ngữ nào đi nữa. Tuy nhiên, đó chỉ là sự khác biệt hình thức, còn trong bản chất, giữa chúng có rất nhiều điểm chung, nhiều sự giao thoa tương hỗ nhau. Cái chung lớn nhất, cả ba cùng là văn chương của nhà văn, và do nhà văn sáng tạo nên.

Ở giai đoạn ấu thơ của mình, kịch nói từng có một hình thức ngôn ngữ đối thoại bằng thơ, bây giờ ta vẫn có thể gặp nó trong các bi kịch cổ đại Hy Lạp, sau này là các bi kịch của Corneille, Racine... Và các nhà viết kịch khi đó, được gọi chung là các nhà thơ sân khấu. Rồi trên chặng đường phát triển của mình, đến chủ nghĩa hiện thực cuối thế kỷ XIX, sân khấu kịch trong xu thế tiếp cận chủ nghĩa hiện thực, kéo gần sân khấu với đời sống, đã đánh dấu bằng bước chuyển từ ngôn ngữ thơ sang văn xuôi, từ phản ánh những chuyện đại sự quốc gia, sang phản ánh những chuyện gần gũi với đời sống, quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh con người trong mỗi tác phẩm. Bước chuyển rất quan trọng này đã mang lại cho kịch giá trị chân thực, trước hết là ở ngôn ngữ, nó không còn là sự khoa trương, cầu kỳ, mà gần gũi hơn với đời sống.

Và cũng trong tiến trình ấy, đồng hành với hai thể loại văn học còn lại, kịch nói đã có sự chọn lọc, tiếp thu thế mạnh của tự sự và trữ tình để làm phong phú khả năng phản ánh cuộc sống của mình. Cho đến giờ, dấu ấn này cũng còn rất rõ. Trước hết là hình thức, trong tự sự cũng có nhiều đối thoại, chẳng hạn như truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Ông đã sử dụng tới 6 đoạn đối thoại trong một truyện ngắn chỉ với khoảng 13.252 chữ của mình. Đó thường là những đoạn then chốt, cao trào của truyện. Bên cạnh đó, trong trữ tình, một câu chuyện bằng thơ như Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có rất nhiều những Kiều rằng, Vân rằng, Quan rằng... ở những thời điểm mà nhà thơ muốn ẩn mình để khách quan hoá đối tượng miêu tả, cũng có khi nó là điểm nhấn cảm xúc của nhân vật trữ tình... Trong tự sự, có những tác phẩm được viết hoàn toàn bằng hình thức đối thoại, nhưng không phải kịch, như Người cháu của Ramô (Điđrô) chẳng hạn. Chính đối thoại với thế mạnh đặc biệt của nó trong việc khắc hoạ, chuyển tải tiết tấu, không khí, cũng như là ngôn ngữ đắt nhất của những tình huống cao trào, nên nó không xa lạ với tự sự hay trữ tình. Với kịch, sự ảnh hưởng này lớn lao đến mức, chúng ta còn có cả một thể loại kịch thơ, mà Bóng giai nhân của Nguyễn Bính và Yến Lan được coi như sự chào đời chính thức, đánh dấu sự ra đời của thể loại này. Sau đó, là Kiều Loan của Hoàng Cầm, Tuổi hai mươi của Lưu Trọng Lư... đã để lại những dấu ấn đậm nét trong đời sống sân khấu. Còn những vở kịch được viết bằng ngôn ngữ thơ, thì như ta đã biết, nó chính là hình thức chào đời của kịch. Ngoài ra, còn rất nhiều vở kịch với những đối thoại đầy chất thơ, cùng sự ảnh hưởng khá rõ rệt của vần, điệu, tiết tấu, hình ảnh như kịch Tsêkhôp, Puskin... Và hình thức đối thoại kể chuyện - dẫn chuyện, chính là dấu ấn của tự sự trong văn chương kịch.

Tự sự mô tả sự kiện, trữ tình mô tả trạng thái tâm hồn, kịch mô tả hành động. Nhưng sự khác nhau ấy, chỉ ảnh hưởng đến hình thức ngôn ngữ của chúng mà thôi, còn ở khía cạnh văn chương, ta luôn gặp trong các tác phẩm tự sự nhiều yếu tố của kịch, còn trữ tình lại được các nhà viết kịch và viết văn tự sự sử dụng rộng rãi. Dù, điều này thường khó có thể phân biệt rạch ròi, nhưng thực tế, ở văn chương kịch, những đối thoại dẫn chuyện - kể chuyện, độc thoại lại chẳng đầy chất trữ tình, chẳng phải là sự bộc lộ cái Tôi nội cảm của nhân vật - tác giả đó sao? Những lớp độc thoại của Hamlet, Othello... chẳng đã thể hiện rõ ràng đến mãnh liệt cái Tôi nhân vật, với đủ mọi cung bậc của cảm xúc từ sung sướng đến đau khổ tột cùng là gì? Trong kịch của nhà văn Nguyễn Đình Thi, nhất là Rừng trúc, thì lời đối thoại nào mà chẳng là văn, mà chẳng đầy chất thơ. Chính những ngôn từ chừng mực, sang trọng, chất chứa bao nhiêu nỗi niềm chung riêng... mới hiển thị được một hình tượng Chiêu Thánh đẹp đẽ và có sức sống lâu bền đến thế. Đối thoại là ngôn ngữ của kịch, nhưng nếu thiếu nhiệt tình và sự lắng lại trong những mạch chìm cảm xúc như trữ tình, cũng như cái hay trong sự ngân nga của câu từ như tự sự thì văn chương kịch chỉ còn là những gì trần tục, thô ráp của đối thoại - ngôn ngữ giao tiếp của đời sống mà thôi. Đây chính là điểm khác biệt đã mang lại thành công cho những nhà văn viết kịch, mà thể hiện cụ thể ở vốn từ vựng phong phú với những lời hay, ý đẹp và nghệ thuật tu từ... được chuyển hoá thật tinh tế vào văn chương kịch.

Song, ngôn ngữ đối thoại được coi là dấu hiệu đầu tiên của ngôn ngữ kịch. Cũng như không phải bất cứ những gì có vần, có điệu thì đều là thơ, nhưng yếu tố nhịp điệu lại là dấu hiệu đầu tiên của ngôn ngữ thơ ca. Như ta đã thấy, đối thoại không phải là bản quyền chỉ dành cho kịch, mà ở các thể loại văn học khác cũng có đối thoại. Có điều, đối thoại ở đó không phải là ngôn ngữ làm nên đặc trưng bản chất sự vật, và do đó, nếu thiếu đối thoại thì tự sự vẫn là tự sự, và trữ tình vẫn là trữ tình. Đối thoại ở đó tạo nên sự thay đổi về hình thức ngôn ngữ - ngôn ngữ nhân vật, làm cho văn chương trở nên phong phú, đa năng hơn. Chính sự kết hợp đan xen giữa các hình thức kể, tả, bình... và đối thoại tuỳ theo yêu cầu, hoàn cảnh và ý tưởng của nhà văn đã làm cho văn chương của tự sự và trữ tình trở nên sắc bén hơn, có điểm nhấn và chiều sâu. Đây là sự kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả nằm trong ý đồ của nhà văn, và tất nhiên, thiếu đối thoại, chúng ta không mất đi hai thể loại văn học kia. Còn ở kịch, tất cả những thuộc tính của tự sự và trữ tình khi vào kịch, đều phải được chuyển hóa, hóa thân vào văn chương đối thoại. Vì, không có đối thoại không thành kịch, và không có đối thoại tức là chúng ta đã xóa sổ thể loại văn học - sân khấu này.

Được thừa nhận là loại hình văn học nghệ thuật khó nhất bởi từ dòng mở đầu đến dòng kết thúc chỉ có đối thoại và chỉ đối thoại mà thôi, nhưng đó cũng là lý do tạo cho kịch một sức hấp dẫn riêng. Những đặc trưng tạo nên sức hấp dẫn riêng này vừa là thách thức, song cũng là cơ hội để thử thách tài năng của nhà viết kịch. Nhiều nhà văn đã thừa nhận, trong tất cả các thể loại văn học thì viết kịch là khó nhất. Một nhà viết kịch thành công phải hội đủ trong mình nhiều yếu tố, trong đó có năng khiếu văn chương, kinh nghiệm sống, bản lĩnh của người cầm bút và đặc biệt, phải thực sự am hiểu về nghệ thuật kịch. Để có được những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về nghệ thuật kịch, người học phải được đào tạo bài bản tại trường. Đây chính là điều kiện tiên quyết, quyết định thành công của một nhà viết kịch sau này.

                                                                                                                                                              Hải Âu

Tài liệu tham khảo

1. Anhist A. (2003), Lý luận kịch từ Aristote đến Lessin, Tất Thắng dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

2. Anhist A. (2007), Lý luận kịch ở phương Tây nửa cuối thế kỷ XIX, Tất Thắng dịch, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, Hà Nội.

3. C. Mác-Ăng-ghen (1958), Về văn học nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà Nội.

4. Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình (1988), Lý luận văn học, Tập 3, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.

5. Gulaiep N.A. (1982), Lý luận văn học, Lê Ngọc Tân dịch, Nguyễn Đức Nam hiệu đính Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

6. Đình Quang (2003), Về mĩ học và văn học kịch, Nxb Sân khấu, Hà Nội.

7. Nguyễn Đức Lộc (1999), Chất thơ trong sân khấu, Viện Sân khấu-Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, Hà Nội.

8. Hồ Ngọc (1973), Nghệ thuật viết kịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội.