Tin tức - Sự kiện

HÀNH ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU

20 Tháng Mười Một 2019          574 lượt xem

Những đặc trưng của hành động trong nghệ thuật Sân khấu

Mỗi loại hình nghệ thuật đều có ngôn ngữ riêng của mình để hình thành cầu nối giao tiếp giữa nghệ sĩ với khán giả về hiện thực. Ngôn ngữ của văn học là ngôn từ; của âm nhạc là giai điệu, âm thanh, tiết tấu; của hội họa là đường nét, hình khối, màu sắc và ngôn ngữ của nghệ thuật sân khấu là hành động.

Hành động chính là ngôn ngữ, là đặc trưng mang tính bản chất của nghệ thuật sân khấu. Hành động sân khấu đã chi phối và có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với xung đột và thể tài, tạo nên đặc trưng riêng của nghệ thuật sân khấu.

Theo PGS.TS Trần Trí Trắc: “Hành động sân khấu, trước hết là “bắt chước hành động” của nghệ sĩ về cuộc đời. Theo Aristote, bắt chước là tái hiện hiện thực một cách sáng tạo, chứ không phải bê nguyên si cuộc sống lên sân khấu và phải đem đến cho khán giả những nhận thức về cuộc sống cùng với những khoái cảm độc đáo. Ở đây, chúng ta hiểu rằng, hành động ở trên sân khấu “là sự bắt chước không phải con người, mà bắt chước hành động và đời sống, bắt chước bằng sự may mắn hoặc sự bất hạnh, mà sự may mắn và nỗi bất hạnh ấy nằm trong hành động”… [1, Tr 33].

Nói cách khác, hành động trong tác phẩm sân khấu là kết quả của sự chắt lọc, lựa chọn, điển hình hóa qua tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ. Hành động trong tác phẩm sân khấu có thể là một phần của hành động trong cuộc sống nhưng không hoàn toàn đồng nhất với hành động trong cuộc sống.

Trong tác phẩm sân khấu luôn tồn tại khách quan hai loại hành động: Hành động của nhân vật và hành động của diễn viên. Hành động của nhân vật được quy định bởi hoàn cảnh của kịch bản, vở diễn để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ của nhân vật trong tác phẩm. Hành động diễn viên chính là kỹ thuật hình thể, nghệ thuật biểu diễn để lột tả tâm trạng, tính cách nhân vật. Người diễn viên trên sân khấu căn cứ khả năng về hình thể, kỹ thuật biểu diễn của mình, hành động theo quy định của vai diễn để hoàn thiện hình tượng nhân vật. Nhân vật trong tác phẩm là con người hư cấu, giả định của nhà viết kịch, có tên, tuổi, số phận và cuộc đời riêng. Ngược lại, người diễn viên cũng có tên tuổi, số phận riêng của mình và hành động trên sân khấu không phải để thể hiện về mình cho khán giả xem, mà để nói về nhân vật. Người diễn viên biểu diễn trên sân khấu là đang tham gia vào quá trình sáng tạo vận dụng chính cơ thể của mình để thể hiện một con người khác, không phải mình. Trong quá trình này, cái Tôi diễn viên và cái Tôi nhân vật phải hòa quyện, hỗ trợ nhau để đạt được mục đích cao nhất là hoàn thiện hình tượng nhân vật. Nếu hành động của nhân vật trong tác phẩm đạt tới sự chân thực, sinh động, điển hình như chính con người trong cuộc đời thì đó là thành công của người diễn viên.

Hành động trong tác phẩm sân khấu luôn luôn thống nhất biện chứng với nhau, không thể tách rời nhau. Theo PGS.TS Trần Trí Trắc, hành động trong tác phẩm sân khấu bao gồm: “Hoạt động của nhân vật, trong hoàn cảnh của nhân vật, để đạt được mục đích của nhân vật, do nghệ sĩ thể hiện ở trên sân khấu trước khán giả xem trực tiếp và mang giá trị thẩm mĩ (hành động sân khấu khác với hành động ngoài đời bằng chính giá trị thẩm mĩ của nó ở trên sân khấu) và “Hoạt động của nghệ sĩ, trong hoàn cảnh thể hiện nhân vật kịch trước khán giả xem trực tiếp, nhằm đạt mục đích xây dựng hình tượng nhân vật chân thực và sinh động” [1, Tr 34, 35].

Nhân vật trong tác phẩm sân khấu là kết quả của sự khái quát hóa, điển hình hóa từ hình mẫu con người trong cuộc sống của nhà viết kịch. Con người trong cuộc sống giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ thì nhân vật trong tác phẩm sân khấu giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ và hành động nhân vật. Thông qua hành động, nhân vật bộc lộ tính cách, khát vọng của mình và hình thành “sự sống” của nhân vật. Không có hành động nhân vật và hành động sân khấu thì nhà viết kịch không thể xây dựng thành công hình tượng nhân vật. Hành động trong sân khấu chính là chiếc cầu nối giữa nghệ sĩ với khán giả, giữa sân khấu với cuộc đời.

Hành động sân khấu là sự vận động (đang vận động, tự vận động) của một đời sống trong tác phẩm do người nghệ sĩ sáng tạo nên ở một loại hình nghệ thuật dùng chính con người để diễn tả con người. Hành động sân khấu được thể hiện qua hàng loạt sự kiện, sự biến và xung đột kịch. Nếu ngôn ngữ của nghệ thuật sân khấu là hành động và xung đột là hành động bị phản hành động theo quan điểm của Stanislavski thì xung đột trong tác phẩm sân khấu còn có vai trò là ngôn ngữ của nghệ thuật sân khấu. Điều đó có nghĩa là: Hành động sân khấu phải được thể hiện qua xung đột, qua phản hành động và xung đột sân khấu cũng phải được bộc lộ qua hành động, qua ngôn ngữ sân khấu.

Trong nghệ thuật sân khấu, xung đột phải mang tính hành động và phải được bộc lộ qua hành động. Nói cách khác, hành động sân khấu được diễn ra trong xung đột. Chẳng hạn, trong tác phẩm Hamlet của Shakespeare, hàng loạt sự kiện như: Vua cha chết; hoàng hậu Gertrude lấy Claudius - chú ruột của Hamlet, rồi chú lên làm vua; hồn ma của vua cha hiện về báo mộng; Hamlet cho diễn kịch để theo dõi thái độ của mẹ và chú; định giết chú nhưng đúng lúc hắn đang xưng tội nên tạm thời không giết; Hamlet tới sỉ vả mẹ; đâm chết bố của Ophelia… đều là sự biểu hiện của hành động diễn ra trong xung đột, hành động được dẫn dắt và diễn ra trong xung đột.

Hành động trong tác phẩm sân khấu là sự tự vận động, đang vận động của chuỗi các sự kiện diễn ra từ đầu đến cuối, từ tình huống xuất phát đến tình huống kết thúc của vở diễn. Trong tác phẩm sân khấu, hành động được thể hiện ra không phải chỉ bằng những điều người ta nghe thấy hoặc nhìn thấy, mà còn bao gồm cả những điều người ta cảm thấy hoặc nhận biết qua nghe và nhìn. Đó chính là hành động bên trong và hành động bên ngoài.

Hành động bên ngoài chính là những cử chỉ, động tác, lời nói, hành động… của nhân vật được thể hiện qua hình thể của diễn viên trên sân khấu, còn hành động bên trong chính là tâm trạng, suy nghĩ, khát vọng, mục đích… của nhân vật được biểu hiện thông qua kỹ thuật biểu diễn của diễn viên. Hành động bên trong chính là nguyên nhân dẫn đến sự biểu hiện của hành động bên ngoài. Những gì khán giả có thể nhìn thấy, nghe thấy đó là hành động bên ngoài của nhân vật được hiện thực hóa bằng nghệ thuật diễn xuất của người diễn viên. Tất cả những gì ẩn chứa phía sau hành động bên ngoài chính là hành động bên trong, đó là những gì người ta không thể nghe thấy, nhìn thấy nhưng cảm thấy và suy nghĩ thấy để có thể hiểu được, lý giải được hành động bên ngoài. Hành động bên trong châm ngòi cho những suy nghĩ để người ta hiểu được hành động bên ngoài với cả thế giới đang diễn ra cùng tất cả chiều sâu của nó. Do đó, hành động bên trong và hành động bên ngoài luôn có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau.

Tóm lại, hành động trong nghệ thuật sân khấu là kim chỉ nam bao trùm, định hướng sự sáng tạo trong tác phẩm. Hành động là ngôn ngữ của nghệ thuật sân khấu, nhưng ngôn ngữ ấy được biến hóa vô cùng sinh động theo thể tài, thể loại của từng tác phẩm. Hành động trong nghệ thuật sân khấu không có một khuôn mẫu nhất định mà biến hóa theo nhiều khuynh hướng sáng tạo khác nhau, mỗi khuynh hướng đều thể hiện một lợi thế riêng về khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực của mình. Tuy nhiên, đây là sự thống nhất trong đa dạng, bởi mục đích cuối cùng của hành động sân khấu là hướng đến sự thể hiện thành công hình tượng nhân vật. Chính vì vậy, trong nghệ thuật sân khấu, người nghệ sĩ luôn đi tìm hạt nhân cơ bản của hành động để sáng tạo thành công nhân vật thông qua nghệ thuật biểu diễn. Hạt nhân cơ bản của hành động nhân vật chính là mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa tính cách với mục đích, hoàn cảnh của nhân vật.

Để có thể phát hiện được hạt nhân cơ bản của hành động nhân vật, người diễn viên phải được trang bị kiến thức lý luận cơ bản về sân khấu học đại cương, lý luận kịch, phân tích tác phẩm kịch… Nắm vững lý luận cơ bản về nghệ thuật sân khấu cùng với những kinh nghiệm trong thực tiễn sáng tạo sẽ giúp người diễn viên vững tin tìm ra chìa khóa để tiếp cận và sáng tạo thành công nhân vật trong tác phẩm. Khi hiểu rõ và nắm bắt chính xác hành động trong tác phẩm sẽ giúp người đạo diễn khai phá, định hướng và xây dựng thành công hình tượng vở diễn.

                                                                                                                                                       Hải Âu

Tài liệu tham khảo

1. Trần Trí Trắc (2009), Đại cương nghệ thuật sân khấu, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Tr 33, 34, 35.

2. Trần Trí Trắc (1995), Thể tài sân khấu, nghệ sĩ và sáng tạo. NXB Sân khấu.

3. Hồ Ngọc (1973), Nghệ thuật viết kịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội.