Hợp tác đào tạo

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

22 Tháng Sáu 2017          868 lượt xem

         1. Tính đặc thù của hoạt động biểu diễn nghệ thuật sân khấu truyền thống

         Biểu diễn nghệ thuật là loại lao động đặc thù, đó là sự sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần. Đây là một quá trình sản xuất tinh thần đặc biệt, nên không thể tuân thủ máy móc theo quy trình sản xuất sản phẩm vật chất. Giá trị của những sản phẩm do lao động sáng tạo của các nghệ sĩ, nghệ nhân... (có thể do tập thể hoặc cá nhân) không thể lượng hoá được nhưng lại có tác động đến tinh thần của toàn xã hội. Đồng thời, hiệu quả của nó là rất lớn, không những hiệu quả về tinh thần, mà còn mang lại hiệu quả về vật chất cho xã hội. Vì vậy, trong công tác quản lý, nếu áp đặt những chính sách, cơ chế không phù hợp với hoạt động Biểu diễn nghệ thuật sẽ dẫn tới hạn chế tính năng động, sáng tạo của nghệ sĩ cũng như nhu cầu hưởng thụ của quảng đại quần chúng.

          Theo GS. TS Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” thì Sân khấu truyền thống vừa là loại hình nghệ thuật, vừa là một thực thể văn hoá, một thành tố quan trọng cấu thành văn hóa, cho nên nghệ thuật Sân khấu truyền thống nói riêng và văn hoá nói chung còn hướng tới hai chức năng khác nữa là chức năng đảm bảo tính kế tục lịch sử và chức năng định hướng, đánh giá, xác định chuẩn mực, điều chỉnh cách ứng xử của con người.

          Về hình thức biểu hiện, nghệ thuật sân khấu là một loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp. Nó là tổng hoà của các loại hình nghệ thuật: Từ văn học đến âm nhạc, mỹ thuật, ca, múa, nghệ thuật biểu diễn của diễn viên và nghệ thuật đạo diễn... Tuy nhiên, so với các loại hình nghệ thuật khác, nghệ thuật sân khấu Chèo, Tuồng có những nét đặc thù cơ bản, khác hẳn với các loại hình khác mà thiếu những đặc thù ấy, Tuồng, Chèo không còn là Tuồng, Chèo.

        “Với tính chất là một kịch chủng, sân khấu Tuồng, Chèo truyền thống cũng thể hiện cuộc sống bằng hành động sân khấu. Nhưng không phải là hành động dưới dạng tự nhiên, gần với cuộc sống thường ngày mà dưới dạng hát, múa, nói và động tác đã được âm nhạc hoá, vũ đạo hoá... Hành động này được tiết tấu hoá, không theo nhịp điệu tự nhiên. Nó được cách điệu hoá với những ước lệ đa dạng phong phú. Hành động được diễn ra trong một không gian, thời gian ước lệ, giả định. Nó tả ý mà không tả thực. Cùng với hành động hoá trang, phục trang... cũng được cách điệu, ước lệ theo một cách tương ứng. Tái hiện hành động con người theo biện pháp phân loại (vai mẫu) với những trình thức, mô hình biểu diễn nhất định”.

         Chính nhờ những đặc thù này, Sân khấu truyền thống Chèo, Tuồng đã đạt được một giá trị nổi bật so với loại hình nghệ thuật sân khấu khác như kịch nói tả thực.

        Từ những đặc thù nêu trên đã đặt ra nhiều yêu cầu cho công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật, đặc biệt là sân khấu truyền thống, cần biết trân trọng, ưu ái, động viên, khích lệ sự đam mê của người nghệ sĩ, những người sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật. Nếu có thái độ đúng đắn sẽ tạo tinh thần thoải mái, không khí nghệ thuật rộng mở để các nghệ sĩ có cảm hứng sáng tạo, thăng hoa trong nghệ thuật. Đồng thời, trong chỉ đạo quản lý không nên máy móc tính toán, hoạch toán cung - cầu bởi hiệu quả của sự sáng tạo giá trị tinh thần không thể dùng phương pháp tính toán cụ thể. Cũng vì thế không nên dập khuôn công thức cho việc tạo kế hoạch hoạt động, định mức đầu tư, phân bổ kinh phí cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật Sân khấu truyền thống.

         Mặt khác, do tính cách điệu, ước lệ cao trong Chèo, Tuồng mà người xem muốn thưởng thức đầy đủ cũng cần phải làm quen với những ước lệ đó. Đặc điểm này đòi hỏi nhà quản lý cần hiểu rõ để có những biện pháp khuyến khích nâng cao khả năng thưởng thức nghệ thuật Sân khấu truyền thống trong công chúng, từ đó đưa khán giả trong thời kỳ hội nhập ngày càng đến gần gũi hơn với nghệ thuật Sân khấu truyền thống.

          2. Tác động của kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa

          Trong hai thập kỷ gần đây, quá trình toàn cầu hoá diễn ra với tốc độ nhanh chóng, đã và đang trở thành xu thế khách quan, tất yếu của thời đại, tác động đến sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội. Các phương tiện thông tin bùng nổ: internet, điện thoại di động... tạo khả năng thuận lợi cho quá trình giao dịch trao đổi thông tin và còn là công cụ đắc lực cho hoạt động thương mại điện tử.

          Toàn cầu hóa trước hết là toàn cầu hóa về kinh tế, nhưng ảnh hưởng và tác động của nó không chỉ ở kinh tế mà còn trực tiếp hoặc gián tiếp thâm nhập vào nhiều lĩnh vực như chính trị, xã hội, văn hóa và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Toàn cầu hóa đã tạo cơ hội lớn cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc, nhất là về kinh tế và khoa học công nghệ. Đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, toàn cầu hóa đã mở ra cơ hội và triển vọng khả quan để các quốc gia tiến hành giao lưu văn hóa, phát triển khoa học, giáo dục… toàn cầu, tạo động lực cho quá trình đổi mới và hiện đại hóa đất nước.

         Trong những năm qua, duới tác động của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, đời sống kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều biến chuyển lớn. Nhờ mở rộng quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế với các quốc gia trên thế giới chúng ta đã giải quyết được một số khó khăn trước mắt, khắc phục được một bước sự trì trệ lạc hậu của nền kinh tế. Kinh tế luôn đạt mức tăng trưởng liên tục ở mức 8%/ năm, đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của người dân ngày một nâng cao… Đó là điều kiện thuận lợi để các nhu cầu giải trí, thưởng thức nghệ thuật được phát triển. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân được tiếp xúc nhiều hơn với các di sản văn hóa ở trong và ngoài nước, được tiếp xúc với các hoạt động điện ảnh, sân khấu, âm nhạc… Sách, báo và hệ thống thư viện dần chuyển qua hệ thống điện tử với khả năng lưu trữ, sử dụng linh hoạt. Các phương tiện nghe - nhìn như: phát thanh, truyền hình, điện ảnh... đã tạo ra khả năng phổ cập tri thức, truyền bá nghệ thuật rất lớn. Nhờ được tiếp xúc với các tinh hoa văn hoá thế giới mà trình độ thẩm mỹ của công chúng cũng dần được nâng cao. Các hoạt động văn hoá đa dạng đã gắn với quỹ thời gian rỗi của người dân. Các ngành dịch vụ, các điểm vui chơi giải trí, bảo tàng, trung tâm văn hoá, triển lãm, nhà hát... phát triển nhanh chóng đáp ứng mọi sở thích của công chúng. Đặc biệt các ngành “công nghiệp” văn hoá như: điện ảnh, xuất bản, vui chơi giải trí... bắt đầu phát triển và trở thành ngành kinh tế có doanh thu lớn, thu hút lực lượng lao động đông đảo.

          Tuy vậy, không thể không nói tới mặt trái của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đối với xã hội. Không ít trường hợp vì danh và lợi mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tăng. Nhịp sống sôi động do quy luật kinh tế thị trường khơi dậy làm cho vị thế và vai trò của con người trong xã hội thay đổi. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ vào suy nghĩ, cách làm của mỗi người. Lối suy nghĩ của thời kỳ tập trung bao cấp… được thay thế bằng lối tư duy thông thoáng, năng động của nền kinh tế thị trường. Cùng với các phương tiện truyền thông, giải trí phát triển mạnh mẽ một mặt dẫn tới thị hiếu, thẩm mỹ nghệ thuật của khán giả cũng phong phú, đa dạng hơn. Mặt khác, nảy sinh những xuống cấp trong thị hiếu thưởng thức nghệ thuật, hình thành nhu cầu giải trí mà giảm dần thị hiếu thưởng thức. Đương nhiên, các loại hình giải trí có sức hấp dẫn, thu hút công chúng hơn việc thưởng thức nghệ thuật sân khấu truyền thống.

          Toàn cầu hóa làm cho sản xuất phát triển, kéo theo đó là quyền lực và của cải nhưng không có sự tiến bộ tinh thần tương ứng, các giá trị nhân đạo phổ biến là cái gắn bó loài người thành một khối đoàn kết. Có thể nói, kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa đang đặt văn hóa của các dân tộc trước những thách thức, những nguy cơ bất ổn. Đó là khuynh hướng phổ biến các mô típ văn hóa chung có ý nghĩa toàn cầu. Khuynh hướng đó có thể dẫn đến đồng nhất các giá trị văn hóa, san bằng, đồng hóa các nền văn hóa của dân tộc, làm tăng sự chênh lệch về cơ hội tiến bộ, công bằng của các nước trên thế giới. Quá trình toàn cầu hóa sẽ có nguy cơ đe dọa, xóa bỏ sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các vùng, các khu vực; nguy cơ đồng nhất các hệ thống giá trị và truyền thống sẽ dẫn đến sự xóa bỏ ý thức dân tộc, đe dọa làm cạn kiệt khả năng sáng tạo các nền văn hóa - nhân tố được coi là hết sức quan trọng đối với sự  tồn tại lâu dài của các dân tộc.

         Trải qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, chúng ta phải chịu nhiều thách thức về nhiều mặt, nhất là tư tưởng, văn hóa. Sự phát triển của kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa tạo khả năng quốc tế hóa các hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội. Sự du nhập ào ạt, thiếu chọn lọc các giá trị văn hóa từ bên ngoài đã dẫn đến tình trạng tha hóa, lai căng và hủy hoại các giá trị văn hóa tinh thần, nền tảng của xã hội. Những phim kích động bạo lực, những thú vui thấp kém, những trò chơi bạo lực, những bài hát ủy mị, vô nghĩa… từ nước ngoài tràn vào đã góp phần gia tăng các tệ nạn xã hội. Thị trường văn hóa nghệ thuật ở các thành phố đang ở tình trạng báo động khi thị hiếu của lớp trẻ đang bị dẫn dắt bởi những sản phẩm “làm hàng”…Trước sự tấn công dồn dập của thị trường phim, ca nhạc từ nước ngoài và những chương trình mang tính thương mại ở trong nước, sân khấu truyền thống hiện nay đang đứng trước những tác động xấu của toàn cầu hoá, của nền kinh tế thị trường. Hầu hết các đơn vị nghệ thuật Sân khấu truyền thống trong cả nước gặp khó khăn trong hoạt động, trong đời sống văn nghệ sĩ.... Sân khấu đã xuất hiện những tác phẩm do chạy theo xu thế thị trường, mang tính thương mại hoá nghệ thuật, nội dung không lành mạnh, làm mờ đi những tinh hoa nghệ thuật truyền thống vô cùng quý giá của cha ông ta từ ngàn xưa để lại, tạo ra những sản phẩm nghệ thuật lai căng: Chèo không ra Chèo, Tuồng không ra Tuồng…Tình hình đó đang nói lên sự xuống cấp trong đời sống tinh thần ở một số bộ phận dân cư trong xã hội có liên quan tới xu thế toàn cầu hóa và trình độ năng lực quản lý xã hội của chúng ta. Những thách thức của thực tiễn như vậy tác động không nhỏ tới công tác quản lý nhà nước về hoạt động Biểu diễn nghệ thuật, đặc biệt là sân khấu truyền thống. Việc tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật Sân khấu truyền thống là vô cùng cần thiết và có vai trò trọng yếu trong việc định hướng và thúc đẩy sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn Sân khấu truyền thống phát triển vừa đảm bảo tính bảo tồn, vừa đáp ứng được thị hiếu của khán giả trong kinh tế thị trường.

3. Chính sách xã hội hoá hoạt động văn hoá

            Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên. Văn hóa là sản phẩm trí tuệ, tâm hồn của con người, của cộng đồng, phản ánh nhu cầu tự nhiên của con người, vì vậy, văn hóa là sản phẩm chung của xã hội, phản ánh trình độ phát triển của con người của từng giai đoạn lịch sử. Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế của Việt Nam (từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường) và quan điểm coi văn hóa là sự nghiệp của toàn xã hội đã tạo điều kiện thúc đẩy xã hội hóa trên nhiều lĩnh vực.

            Xã hội hóa các hoạt động xã hội là quá trình vận động, tổ chức các chủ thể xã hội (các cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng, tổ chức xã hội) tham gia một cách tự giác vào trong các hoạt động xã hội trên cơ sở nhận thức về vai trò và vị trí của mình trong từng hoạt động xã hội, từ đó mà giúp cho các hoạt động xã hội phù hợp với sự phát triển của xã hội.

           Xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật, thực chất là xã hội hóa quyền tổ chức và điều hành các hoạt động sản xuất văn hóa nghệ thuật theo hướng đa dạng hóa chủ thể quản lý, nhằm thu hút đông đảo lực lượng xã hội, các tâp thể và tư nhân đứng ra chăm lo các hoạt động văn hóa, tổ chức và điều hành quá trình sản xuất theo đúng pháp luật của nhà nước.

           Xã hội hóa hoạt động văn hóa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của lĩnh vực này. Đây là một chính sách lâu dài, là phương châm nhằm đạt hiệu quả xã hội ngày càng cao trong các hoạt động văn hóa. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã chỉ rõ “ Chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa nhằm động viên sức người, sức của của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội để xây dựng và phát triển văn hóa”; Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 9 BCH TW  Khóa XI khẳng định: “Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa… thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển”. Cụ thể hoá chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/5/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao trong tình hình mới

          Xã hội hóa hoạt động Biểu diễn nghệ thuật thực chất là biến các hoạt động trong lĩnh vực Nghệ thuật biểu diễn trở thành của toàn xã hội, được xã hội quan tâm nuôi dưỡng, thu hút được sự tham gia quản lý, tổ chức và điều hành của nhiều cấp, ngành và mọi tầng lớp nhân dân. Khi đó, Nghệ thuật biểu diễn trở nên gắn bó với cuộc sống, phát huy vai trò tích cực trong đời sống xã hội và nó sẽ có môi trường để phát triển thuận lợi.

         Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng xã hội hóa các hoạt động văn hóa không có nghĩa là giảm nhẹ vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách, mà trái lại cần nâng cao vai trò của Nhà nước trong công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật Sân khấu truyền thống, trong việc định hướng và chỉ đạo, tạo dựng hành lang pháp lý và tăng cường đầu tư cho họat động này.

         Trên đây là một số nội dung cơ bản trong lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật nói chung, đối với nghệ thuật sân khấu truyền thống nói riêng ở nước ta hiện nay. Nhận thức, vận dụng đúng đắn về lý luận, kết hợp hài hoà với thực tiễn hoạt động của công tác quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn sẽ giúp cho hoạt động tổ chức biểu diễn nghệ thuật phát triển đúng hướng, thực hiện tốt chức năng của nghệ thuật biểu diễn sân khấu truyền thống trong giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho công chúng. Không những thế, còn góp phần vào sự ổn định chính trị, tư tưởng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

         Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nước ta đã có xu thể mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế mạnh mẽ, biểu diễn nghệ thuật truyền thống nói chung  có nguy cơ bị mai một. Cùng với đó, các đơn vị biểu diễn nghệ thuật trong nước đang phải cạnh tranh gay gắt với các phương tiện truyền thống hiện đại và sản phẩm giải trí công nghệ cao trong việc thu hút thời gian và đồng tiền nhàn rỗi của công chúng. Trước tình hình đó, những nhà quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật cần có phải sự tăng cường công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật nói chung, biểu diễn nghệ thuật truyền thống nói riêng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống.

                                                                                                                               ThS. Nguyễn Kim Ngân

                                                                                                                         Vụ Đào tạo - Bộ VHTTDL