10 Tháng Mười Hai 2018

Hợp tác đào tạo

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT TRỰC THUỘC BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

29 Tháng Tám 2018          218 lượt xem

                                                                   

        1. ĐẶT VẤN ĐỀ

      Những năm qua, công tác đào tạo nhân lực Thể dục thể thao đã có những bước phát triển mạnh, chất lượng đào tạo được nâng cao, các loại hình đào tạo được đa dạng hóa, giao lưu, hợp tác quốc tế về đào tạo tiếp tục được duy trì và phát triển, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiều học sinh, sinh viên, vận động viên đạt được những thành tích cao trong học tập, nghiên cứu khoa học và đoạt giải tại các giải đấu thể thao. Đạt được những thành tích đó là có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và tinh thần chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu của các cơ sở đào tạo trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, phần lớn học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường cũng đã bộc lộ những hạn chế như: trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt nhưng khả năng ngoại ngữ còn hạn chế, dẫn đến nhân lực được đào tạo chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu xã hội,chưa phù hợp với yêu cầu của hội nhập quốc tế và khả năng tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn ở nước ngoài chưa cao. Mặt khác giỏi ngoại ngữ sẽ tạo cơ hội mở rộng giao lưu học hỏi và thi đấu với các vận động viên thành tích cao ở nước ngoài, tạo thuận lợi cho vận động viên Việt Nam đi tập huấn ở các nước có nền thể thao phát triển trên thế giới.

      Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của phát triển năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, việc đánh giá “Thực trạng và giải pháp dạy và học ngoại ngữ trong các trường Đại học Thể dục thể thao trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” giai đoạn hiện nay được tiến hành nghiên cứu.

        2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

         2.1. Đánh giá thực trạng điều kiện dạy và học ngoại ngữ của các trường ĐH TDTT giai đoạn hiện nay

         2.1.1.Việc dạy và học ngoại ngữ của các trường ĐH TDTT

        Hiện nay, khối các trường ĐH Thể dục thể thao trực thuộc Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch quản lý có 04 ngành đào tạo ở trình độ đại học và cao đẳng, gồm các ngành: Giáo dục thể chất, Quản lý thể dục thể thao, Huấn luyện thể thao và Y sinh học thể dục thể thao với nhiều chuyên ngành, được đào tạo ở các trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học (bảng 1).

                                          Bảng 1. Danh mục ngành đào tạo khối các trường ĐH TDTT

TT

Trình độ đào tạo

Ngành đào tạo

Ghi chú

1

Trình độ cao đẳng

Giáo dục thể chất

 

2

Trình độ đại học

- Y sinh học thể thao

- Huấn luyện thể thao

- Quản lý thể dục thể thao

- Giáo dục thể chất

 

3

Trình độ sau đại học

- Huấn luyện thể thao

- Giáo dục thể chất

 

 

          Các trường ĐH TDTT trong những năm qua được củng cố và phát triển về mọi mặt; với thuận lợi được phân bố hợp lý ở 03 khu vực: Bắc, Trung, Nam và đặt tại các thành phố lớn, địa bàn dân cư đông đúc. Đây là 03 cơ sở đào tạo (CSĐT) Thể dục thể thao cung cấp số lượng lớn nhân lực hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thể dục thể thao của cả nước.

           Nhìn chung, phần lớn, sinh viên khối ngành Thể dục thể thao có năng lực ngoại ngữ thấp hơn so với các ngành đào tạo đại khác.

            2.1.2.Về đội ngũ giảng viên giảng dạy ngoại ngữ

Đội ngũ giảng viên, giảng dạy chuyên ngành của 03 CSĐT có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo cơ bản ở nước ngoài, nhưng đến nay đã lớn tuổi và chuẩn bị nghỉ hưu. Phần lớn, giảng viên trẻ đều biết ngoại ngữ, nhưng chưa có khả năng tự nghiên cứu và giảng dạy môn chuyên ngành bằng ngoại ngữ. Đội ngũ giảng viên trẻ chiếm tỷ lệ lớn và chủ yếu được đào tạo ở trong nước nên khả năng ngoại ngữ còn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế và hội nhập quốc tế.

Hiện nay, số lượng giảng viên giảng dạy ngoại ngữ tại 3 trường đại học Thể dục thể thao gồm có 26 người, trong đó có 19 giảng viên dạy Tiếng Anh, 1 giảng viên dạy tiếng Nga, 6 giảng viên dạy tiếng Trung. Trình độ của giảng viên từ đại học trở lên (18 trình độ thạc sĩ, 8 đại học). Hầu hết các giảng viên giảng dạy ngoại ngữ đều ở độ tuổi bình quân khoảng 40 tuổi (bảng 2).

                                   Bảng 2. Số lượng giảng viên dạy tiếng Anh tại 03 trường đại học TDTT

TT

Tên cơ sở đào tạo

Tổng

Đánh giá theo khung năng lực

ngoại ngữ Châu Âu

Trình độ khác

B1

B2

C1

C2

 

Đại học Thể dục thể thao BN

 

5

CXĐ

CXĐ

CXĐ

CXĐ

4 ThS;

 1 CN

 

Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng

 

7

CXĐ

CXĐ

CXĐ

CXĐ

6 ThS, 01 đang học CH

 

Đại học Thể dục thể thao TPHCM

 

7

CXĐ

CXĐ

CXĐ

CXĐ

6 ThS; 1 CN

 

           Ghi chú: CXĐ (Chưa xác định), đây là kết quả báo cáo của các trường ĐH TDTT, chưa được rà soát, xác định cụ thể năng lực ngoại ngữ theo khung năng lực ngoại ngữ châu Âu  

           Giảng viên của các trường ĐH TDTT luôn có ý thức học tập nâng cao trình độ, tuy nhiên ít được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ hoặc tham gia hội nghị, hội thảo khoa học ở trong nước và nước ngoài. Đồng thời, các giảng viên ngoại ngữ chưa chủ động thường xuyên cập nhật văn bản và tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ và tiếp cận các phương pháp dạy và học ngoại ngữ tiên tiến. Hầu hết, đội ngũ giảng viên dạy ngoại ngữ tiếng Anh trong các trường ĐH TDTT Thể dục thể thao trực thuộc Bộ chưa tham gia việc kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ, nên nhiều người chưa biết mình đang ở trình độ nào để có kế hoạch đào tạo nâng năng lực ngoại ngữ.

            2.1.3.Chương trình, giáo trình phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ

Việc bố trí môn học ngoại ngữ cho sinh viên đại học và cao đẳng của 03 trường đại học Thể dục thể thao chủ yếu là môn tiếng Anh và thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, với thời lượng bắt buộc tối thiểu là 10 đơn vị học trình, được bố trí ở phần kiến thức giáo dục đại cương. Trong 03 trường đại học Thể dục thể thao, có 01 trường bố trí đào tạo tiếng Anh chuyên ngành ở ngành Giáo dục thể chất, Quản lý thể dục thể thao ở trình độ đại học với thời lượng 8 đơn vị học trình và 01 trường bố trí thời lượng tiếng Anh chuyên ngành ở một số ngành với thời lượng 05 tín chỉ (08 đơn vị học trình) (bảng 3).

                    Bảng 3. Thực trạng việc giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên các trường đại học TDTT

TT

Trình độ

Tên học phần

Số Tín chỉ/đơn vị học trình

Phương pháp đánh giá

Chuẩn đầu ra (dự kiến)

1. Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

 

Cao đẳng

- Tiếng Anh cơ sở

10 ĐVHT

Thi vấn đáp

A

-Tiếng Anh chuyên ngành

 

 

 

Đại học

- Tiếng Anh cơ sở

10 ĐVHT

Thi vấn đáp

A

-Tiếng Anh chuyên ngành

 

 

 

Sau đại học

- Tiếng Anh cơ sở

4 ĐVHT

Thi nghe, nói, đọc, viết

B1

-Tiếng Anh chuyên ngành

 

 

 

2. Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng

 

Cao đẳng

- Tiếng Anh cơ sở

 

 

 

-Tiếng Anh chuyên ngành

4 ĐVHT

 

 

Đại học

- Tiếng Anh cơ sở

 

 

 

-Tiếng Anh chuyên ngành

8 ĐVHT

 

 

Sau đại học

- Tiếng Anh cơ sở

 

 

 

-Tiếng Anh chuyên ngành

 

 

 

3. Đại học Thể dục thể thao TP.HCM

 

Đại học

- Tiếng Anh cơ sở

5 TC

Thi HK

A

-Tiếng Anh chuyên ngành

5 TC

Thi HK

B1

Sau đại học

- Tiếng Anh cơ sở

 

Thi B1

 

-Tiếng Anh chuyên ngành

 

 

 

            Mặc dù một số ngành thuộc lĩnh vực thể dục thể thao không bố trí thời lượng giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy các môn chuyên ngành, chuyên sâu, giảng viên giảng dạy đều lồng ghép, cung cấp, giải thích các thuật ngữ ngoại ngữ chuyên ngành cho học sinh, sinh viên (như tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Đức…).

            Chương trình, giáo trình và các nguồn học liệu phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ tiếng Anh cơ bản, chuyên ngành ở các trường ĐH TDTT chậm đổi mới, chưa được quan tâm, đầu tư. Có CSĐT đã quan tâm, đầu tư nhưng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được khả năng, nhu cầu tự học, tự nghiên cứu của giảng viên và học sinh, sinh viên; có CSĐT có giáo trình giảng dạy, nhưng đã cũ không phù hợp với mục tiêu đào tạo và yêu cầu thực tế của xã hội.

            Hàng năm, các trường ĐH TDTT chưa thường xuyên tập trung đầu tư việc mua giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ, nên các nguồn học liệu trong thư viện của các trường ĐH TDTT hạn chế. Vì vậy, sự hỗ trợ cho việc tự học, tự nghiên cứu của giảng viên và học sinh, sinh viên chưa được thuận lợi.

            2.1.4.Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy và học ngoại ngữ

           Trong 03 trường đại học Thể dục thể thao chỉ có 01 trường đào tạo có phòng học dành cho việc dạy và học ngoại ngữ được trang bị đầy đủ, nên hầu hết các giảng viên sử dụng giáo trình điện tử để phục vụ giảng dạy. Vì năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cấp kinh phí từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo để hỗ trợ Nhà trường trang bị cơ sở vật chất và các thiết bị thiết yếu phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ.

           Các cơ sở đào tạo thể dục thể thao còn lại, chưa được Bộ tập trung bố trí kinh phí cho việc mua sắm trang thiết bị thiết yếu phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ, nên tại các cơ sở này tuy có phòng học ngoại ngữ cho sinh viên, nhưng phòng học chỉ mới được trang bị máy chiếu projector. Do trang thiết bị thiết yếu phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ còn thiếu, nên phương pháp dạy và học ngoại ngữ của các trường ĐH TDTT vẫn thiên về dạy ngữ pháp và từ vựng cho sinh viên. Việc áp dụng các phương pháp dạy và học tích cực và rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho sinh viên theo chuẩn năng lực chưa được được chú trọng, triển khai thực hiện.

            2.2. Đề xuất các giải pháp tăng cường  dạy và học ngoại ngữ tại các trường Đại học Thể dục thể thao

            2.2.1. Tổ chức rà soát, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên, giáo viên của 03 trường đại học TDTT trực thuộc Bộ

            Đội ngũ giáo dục và các giảng viên, giáo viên chuyên ngành (không phải là giảng viên, giáo viên ngoại ngữ)

          Các trường ĐH TDTT tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên trong việc dạy và học ngoại ngữ, nhằm đáp ứng yêu cầu mới.

          Rà soát, điều chỉnh, bổ sung những cơ chế chính sách, chế độ cần thiết, phù hợp cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, giáo viên chuyên ngành và ngoại ngữ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

         Tăng cường công tác xã hội hóa, thu hút sự đóng góp của xã hội đối với công tác dạy và học ngoại ngữ; khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trung tâm ngoại ngữ của các cơ sở đào tạo.

          Tập huấn ứng dụng phần mền công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo, phương pháp giảng dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ ngắn hạn ở trong nước và ngoài nước đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên, giáo viên giảng dạy chuyên ngành.

            Xây dựng văn bản quy định về dạy học ngoại ngữ tăng cường đối với học sinh, sinh viên.

           Xây dựng văn bản quy định về chuẩn đầu ra đối với học sinh, sinh viên và chương trình đào tạo đối với các ngành có đào tạo chuyên ngành bằng tiếng Anh.

             Đội ngũ giảng viên, giáo viên giảng dạy ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành bằng ngoại ngữ

          Tiếp tục rà soát, đánh giá năng lực thực trạng đội ngũ giảng viên, giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ngoại ngữ tiếng Anh tại các cơ sở đào tạo Thể dục thể thao trực thuộc Bộ. Trên cơ sở đó hàng năm có kế hoạch tuyển dụng bổ sung và đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn nâng cao năng lực ngoại ngữ ở trong nước và nước ngoài đối với đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành, nhằm chuẩn hóa về trình độ đào tạo nguồn nhân lực theo quy định, tiêu chuẩn hiện hành.

         Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá dạy và học ngoại ngữ; tổ chức và tham gia các hội thảo về đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngoại ngữ; tổ chức biên soạn bài giảng, tài liệu tham khảo, giáo trình dùng cho việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường.

          Xây dựng và triển hai kế hoạch đưa giảng viên, giáo viên ngoại ngữ của nhà trường đi tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt các khóa tập huấn được cấp chứng chỉ quốc tế do Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 tổ chức tại các trường đại học trong nước và học tập ở nước ngoài nhằm đảm bảo mục tiêu đề ra.

         Hàng năm tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn về nghiệp vụ sư phạm, ứng dụng các phần mềm công nghệ thông tin và kiểm tra, đánh giá trong giảng dạy ngoại ngữ ở trong nước và nước ngoài; tổ chức các hội thảo chuyên đề về công tác khảo thí, xây dựng bộ đề thi đánh giá trình độ ngoại ngữ tiếng Anh cho học sinh, sinh viên.

          Thường xuyên phối hợp với các đơn vị, cơ sở giáo dục tổ chức các đợt kiểm tra đánh giá trình độ ngoại ngữ Tiếng Anh theo Khung năng lực 6 bậc của Việt Nam và các kỳ thi tiếng Anh Quốc tế (IELTS, FCE, TOFEL-IBT). Việc quy đổi các trình độ ngoại ngữ tương đương theo quy định của quốc tế và Đề án NNQG 2020.

            2.2.2. Xây dựng các cơ sở đào tạo điển hình về đổi mới dạy và học ngoại ngữ

          Tăng cường nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của một số các trường ĐH TDTT đại học, cao đẳng có Trung tâm ngoại ngữ, để trở thành những trường nòng cốt, điển hình trong việc đổi mới phương thức thi, kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin... trong việc dạy và học ngoại ngữ, phù hợp với trình độ đào tạo.

            Xác định, lựa chọn 01 cơ sở đào tạo nòng cốt, điển hình trong lĩnh vực Thể dục thể thao.

          Khuyến khích, tạo cơ chế thuận lợi để các cơ sở đào tạo liên kết, mời chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy các môn học chuyên ngành bằng ngoại ngữ tiếng Anh và các tiếng khác (phù hợp với ngành/chuyên ngành/nghề đào tạo).

            2.2.3. Đổi mới nội dung chương trình, giáo trình và phương pháp giảng dạy ngoại ngữ

         Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chương trình đào tạo tiếng Anh và các tiếng khác. Đồng thời, xây dựng kế hoạch đào tạo, chương trình giảng dạy linh hoạt, nhấn mạnh vào các tình huống giao tiếp thực tế. Giảm những nội dung mang tính học thuật ngôn ngữ quá cao xa rời thực tế.

         Thiết kế, xây dựng chương trình đào tạo ngoại ngữ phù hợp với đặc thù, ngành/nghề đào tạo, tập trung vào các hoạt động phát triển kỹ năng, đảm bảo tính liên tục, có kế thừa và phát triển kiến thức; tăng cường bổ sung các nguồn học liệu phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ.

        Tăng cường đổi mới phương pháp thi, kiểm tra đánh giá chất lượng dạy và học ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành; xây dựng ngân hàng đề thi trắc nghiệm tiếng Anh, đánh giá khách quan thông qua hệ thống phần mềm hiện đại.

          Trên cơ sở thực tiễn từng ngành/nghề đào tạo, các cơ sở đào tạo cần rà soát, xem xét việc quy định về số giờ giảng dạy, giáo trình giảng dạy để đáp ứng các bậc trong khung năng lực ngoại ngữ. Đồng thời, đối với học sinh, sinh viên sắp tốt nghiệp và học xong chương trình ngoại ngữ tiếng Anh, các cơ sở đào tạo cần có kế hoạch giảng dạy tiếng Anh tăng cường cho học sinh, sinh viên nhằm giúp học sinh, sinh viên có thể đạt trình độ tiếng Anh theo quy định khi tốt nghiệp.

        Nhà trường phối hợp, liên kết với các tổ chức, đơn vị có thẩm quyền (Hội Anh ngữ Quốc tế/ Trung tâm Anh ngữ Quốc tế hoặc trường Đại học Ngoại ngữ) tổ chức đánh giá năng lực ngoại ngữ cho sinh viên.

            2.2.4. Tăng cường hợp tác quốc tế trong dạy và học ngoại ngữ

         Tăng cường hợp tác quốc tế trong giảng dạy, học tập ngoại ngữ; có chế độ thu hút người Việt Nam ở nước ngoài, các chuyên gia nước ngoài tham gia vào công tác đào tạo ngoại ngữ ở trong nước và đào tạo các môn chuyên ngành bằng ngoại ngữ.

          Tăng cường thực hiện các chương trình hợp tác, trao đổi giảng viên, giáo viên với nước ngoài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia, giảng viên người nước ngoài tham gia đào tạo ngoại ngữ trong 03 trường ĐH TDTT; đa dạng hóa các hình thức hợp tác quốc tế với các tổ chức ở các quốc gia có ngôn ngữ quốc gia phù hợp với việc dạy và học ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành bằng ngoại ngữ ở các trường ĐH TDTT trực thuộc Bộ.

         Phấn đấu từ nay đến năm 2020 tổ chức được cho 100% số giảng viên, giáo viên dạy ngoại ngữ và dạy môn chuyên ngành bằng ngoại ngữ trong các trường ĐH được đi học tập, bồi dưỡng chuyên môn ngắn hoặc dài hạn ở nước ngoài.

            2.2.5. Xây dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ việc học ngoại ngữ và tạo động cơ học tập ngoại ngữ đối với sinh viên

           Các trường ĐH TDTT tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của học sinh, sinh viên về việc học ngoại ngữ nhằm đáp ứng yêu cầu mới. Đồng thời, xây dựng và phát huy mạnh mẽ môi trường tự học, tự nâng cao trình độ và sử dụng ngoại ngữ đối với học sinh, sinh viên.

          Tăng cường và phát triển các câu lạc bộ tiếng Anh và tổ chức các cuộc thi Olympic tiếng Anh và học tiếng Anh ngoại khóa cho học sinh, sinh viên trong các trường ĐH TDTT; tạo môi trường, sân chơi để học sinh, sinh viên có cơ hội giao lưu học hỏi, nâng cao khả năng ngoại ngữ.

           Tăng cường việc phát hành, sử dụng các loại báo, tạp chí bằng ngoại ngữ; các hoạt động văn hoá, âm nhạc, nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, quảng bá có sử dụng ngoại ngữ trong các trường ĐH TDTT.

         Tạo điều kiện thuận lợi để các VĐV, chuyên gia nước ngoài có cơ hội giao lưu với học sinh, sinh viên các trường ĐH TDTT thông qua các hoạt động như toạ đàm, hội thảo chuyên ngành, có sử dụng tiếng Anh và các tiếng khác phù hợp với đặc thù, ngành/nghề đào tạo.

         Khuyến khích việc tổ chức hội nghị học sinh, sinh viên để trao đổi kinh nghiệm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong học tập và sử dụng ngoại ngữ.

            2.2.6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ

          Xây dựng danh mục và kế hoạch đầu tư mua sắm bổ sung các thiết bị thiết yếu và tài liệu học, tài liệu tham khảo cho các phòng học tiếng nước ngoài, phòng nghe nhìn và phòng đa phương tiện đạt tiêu chuẩn, có phần mềm chuyên ngữ phục vụ dạy học, kiểm tra đánh giá.

           Từng bước đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy và học ngoại ngữ phù hợp với từng cơ sở đào tạo, đảm bảo đến năm 2020, 03 trường đại học Thể dục thể thao có phòng học tiếng nước ngoài và phòng nghe nhìn đa năng. Việc mua sắm trang thiết bị phải cân đối giữa nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giáo viên ngoại ngữ, xây dựng và nhân rộng mô hình điển hình/nòng cốt đổi mới công tác khảo thí với việc mua sắm trang thiết bị, phần mềm, học liệu dạy và học ngoại ngữ…

          Việc mua sắm trang thiết bị hiện đại phải hội đủ các điều kiện: đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất để lắp đặt thiết bị; có giảng viên, giáo viên ngoại ngữ đạt chuẩn; thiết bị phải phù hợp và đồng bộ với nội dung chương trình, khả năng sử dụng của giáo viên, kỹ thuật viên và phải được tập huấn, hướng dẫn sử dụng; phải có nguồn học liệu điện tử và các chương trình để giảng dạy trên thiết bị này.

         Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và kỹ thuật viên nhằm sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy và học ngoại ngữ; khai thác đúng mục đích các nguồn thông tin, tư liệu nước ngoài, đặc biệt là Internet phục vụ dạy học ngoại ngữ.

          Ưu tiên, bố trí kinh phí, đầu tư mua sắm trang thiết bị thiết yếu, các nguồn học liệu cho các trường ĐH TDTT có nhiều con em đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, miền núi theo học, nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc tăng cường, nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ đối với giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên.

                                                                                                                 PGS.TS Bùi Quang Hải

                                                                                                            Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Nghị quyết 08 NQ/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020.
  2. Đề án phát triển Trường Đại học TDTT Bắc Ninh giai đoạn 2014-2020.
  3. Đề án phát triển Trường Đại học TDTT TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2020.
  4.  Đề án phát triển Trường Đại học TDTT Đà Nẵng giai đoạn 2014-2020.
  5. Thủ tưởng chính phủ (2012), Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012.