10 Tháng Mười Hai 2018

Hợp tác đào tạo

MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VĂN HÓA ĐỌC VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC

31 Tháng Tám 2018          233 lượt xem

        Hệ thống thư viện Việt Nam đã có một bề dày lịch sử hoạt động với hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành. Ngành thư viện đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển trình độ dân trí, kinh tế và xã hội của đất nước… Tuy vậy, việc thu thập các dữ liệu thống kê về hoạt động của thư viện công cộng nói riêng và các thư viện nói chung còn gặp rất nhiều khó khăn, do các nguyên nhân chủ quan và khách quan. Có rất nhiều tiêu chí đánh giá về vai trò của hệ thống thư viện công cộng trong phát triển thư viện và phát triển văn hóa đọc (VHĐ) ở mỗi địa phương trong cả nước.

        Tác giả bài viết đã tham khảo bộ tài liệu “Cung cấp thông tin thông qua thư viện công cộng Việt Nam: Chuẩn đánh giá hoạt động và tác động” do Hội Thư viện Việt Nam biên soạn dựa trên tài liệu hướng dẫn của UNESCO/IFLA về chủ đề này. Tài liệu trên chỉ chọn 12 chỉ số (tiêu chí) từ 24 chỉ số của UNESCO/IFLA [6]. Đồng thời, kết hợp với các tài liệu khác, trong bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một số tiêu chí nhằm đánh giá những hoạt động và tác động trực tiếp đến phát triển VHĐ trong hệ thống thư viện công cộng ở nước ta hiện nay.

         1. Tiêu chí đánh giá văn hóa đọc  

         a) Năng lực định hướng của chủ thể tới đối tượng đọc

        Năng lực định hướng tới đối tượng đọc được thể hiện ở nhu cầu, hứng thú đọc; mục đích đọc và khả năng lựa chọn tài liệu phù hợp của mỗi người. Năng lực đó là kết quả của sự phát triển tinh thần, văn hóa của mỗi người.

          Nhu cầu đọc:

        Là đòi hỏi khách quan của cá nhân, nhóm, cộng đồng đối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các hoạt động sống của con người. Nhu cầu đọc được nảy sinh từ nhu cầu nhận thức và hiểu biết về thế giới khách quan cũng như những nhu cầu giao tiếp trong xã hội của mỗi cá nhân. Mỗi người cần xây dựng cho mình hứng thú đọc lành mạnh, phù hợp với nhu cầu công việc, học tập và giải trí của mình.

         Hứng thú đọc:

        Là sự ham thích đọc sách thuộc môn loại nào đó, thể loại tài liệu nào đó. Hứng thú đọc là thái độ chọn lựa tích cực của người đọc khi đọc những tài liệu hấp dẫn về mặt cảm xúc hoặc có giá trị đối với chủ thể ở một khía cạnh nào đó. Hứng thú đọc ảnh hưởng tới việc lựa chọn, cảm thụ và đánh giá tác phẩm. Hứng thú đọc là động cơ thúc đẩy việc đọc. Hứng thú đọc liên quan đến nhu cầu đọc. Hứng thú đọc càng cao, nhu cầu đọc càng lớn. Khi nhu cầu đọc thay đổi có thể dẫn đến sự thay đổi của hứng thú đọc. Tuy nhiên cũng có lúc, có người nhu cầu đọc lệch pha với hứng thú đọc. Vì thế, mỗi người phải cố gắng hạn chế sự lệch pha đó để việc đọc trở nên bổ ích và hiệu quả cao.

         Mục đích đọc:

         Mỗi người trước khi đọc phải xác định mục đích đọc là gì?

         Mục đích là cái được đặt ra làm đích để mọi người, tập thể, cộng đồng cần đạt cho được. Mục đích đọc cũng là những đích được đặt ra, để cá nhân, tập thể đạt tới thông qua việc đọc. Xác định mục đích đọc sách là trả lời câu hỏi: “đọc để làm gì”. Từ đó mới trả lời được câu hỏi: “Đọc sách gì, đọc chỗ nào và đọc như thế nào?”. Mỗi người có những mục đích đọc khác nhau nhưng tựu trung lại có các mục đích đọc sau: Đọc để lấy thông tin và để hiểu biết; đọc là học; đọc để giải trí… Mục đích đọc chi phối toàn bộ quá trình đọc. Xác định được mục đích đọc sẽ giúp tránh được việc đọc tràn lan, kém hiệu quả. Mục đích đọc còn giúp cho người đọc lựa chọn một cách đọc hợp lí, phù hợp với nhiệm vụ và thời gian có thể dành cho đọc. Với những mục đích khác nhau sẽ có những tài liệu khác nhau, do đó phải xác định mục đích đọc rõ rệt trước khi đọc để đạt được hiệu quả cao trong việc đọc.

           b) Năng lực, trình độ lĩnh hội nguồn thông tin trong tài liệu

          Ngày nay, lượng sách báo xuất bản trong xã hội ngày càng gia tăng. Để thỏa mãn nhu cầu đọc, hứng thú đọc một cách hiệu quả nhất mỗi người cần phải có năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện thích hợp để tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn tài liệu cho mình mỗi khi cần.

         Năng lực lĩnh hội các giá trị trong tài liệu cũng như kết quả của hoạt động đọc là tri thức, giá trị văn hóa, kinh nghiệm xã hội chứa đựng trong tài liệu được người đọc lĩnh hội, vận dụng vào cuộc sống và làm thay đổi nhận thức, hành vi của họ theo hướng tích cực, thậm chí sản sinh ra tri thức mới.

           Năng lực lĩnh hội các giá trị trong tài liệu được thể hiện ở hai nội dung chính: Phương pháp đọckỹ năng đọc của mỗi người.

          Phương pháp đọc được hiểu là cách thức tiến hành đọc. Ngày nay, phương pháp đọc đã được đúc rút, tổng kết lại thành quy trình thích hợp hỗ trợ cho mọi người hiểu sách được dễ dàng hơn: Trước hết cần đọc lướt để nắm sơ lược vấn đề trong tác phẩm, sau đó đọc kỹ có suy ngẫm, đánh giá, ghi chép nội dung và nhận xét sau khi đọc… Mỗi loại tài liệu lại có những kỹ thuật trình bày riêng, do đó kỹ thuật đọc cũng phải thay đổi tương ứng: Chẳng hạn đọc sách khoa học kỹ thuật khác với đọc sách văn học nghệ thuật…

           Kỹ năng đọc được hiểu là khả năng hiểu đúng văn bản, biết phân tích, đánh giá và vận dụng những kiến thức có được từ trong sách vào thực tiễn cuộc sống. Theo Từ điển Tiếng Việt do học giả Hoàng Phê chủ biên, “kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó và được áp dụng vào thực tiễn” [2], đây là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kỹ xảo trong quá trình nắm vững một phương thức hành động đòi hỏi sự tập trung chú ý cao, sự kiểm soát chặt chẽ của thị giác, hành động chưa bao quát. Như vậy, kỹ năng vô cùng quan trọng đối với một người muốn thành công. Một người nếu chỉ có tri thức mà không có kỹ năng, tức là khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức mình có được vào trong thực tiễn đời sống để hoạt động có hiệu quả.

          c) Thái độ ứng xử của người đọc với đối tượng đọc (tình cảm, hành vi văn hóa)

         Thái độ ứng xử là tâm trạng và hành vi của chủ thể với khách thể trong hoạt động giao tiếp. Thái độ ứng xử của một cá nhân đối với cá nhân hoặc với một đối tượng vật chất, tinh thần là sự biểu hiện tâm trạng, tình cảm và hành động của cá nhân đó với đối tượng mà mình tiếp xúc. Sách, báo, tài liệu là sản phẩm văn hóa, do đó phải được ứng xử có văn hóa. Ứng xử có văn hóa là phạm vi rộng và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, đối tượng khác nhau: ứng xử có văn hóa đối với tài liệu đòi hỏi người đọc phải có thái độ và hành vi phù hợp: Biết trân trọng, giữ gìn tài liệu, biết cách sử dụng tài liệu có hiệu quả mà không làm hư hỏng tài liệu như không được cắt xét, làm nhầu sách, viết bậy lên sách; khi đọc không được gấp sách về phía sau, gập tờ giấy để đánh dấu chỗ dừng lại để đọc tiếp; Không nên thấm nước vào tay để giở sách, vừa mất vệ sinh vừa có thể làm hư sách do nước. Người đọc phải có hiểu biết về vai trò của tác giả tài liệu, tôn trọng bản quyền của tác giả. Khi trích dẫn tài liệu tham khảo cần phải ghi rõ nguồn trích theo đúng quy định hiện hành. Ứng xử có văn hóa với tài liệu còn được thể hiện qua tư thế, tâm thế của người sử dụng, qua tác phong khi đọc và “làm việc” với các nguồn tài liệu… 

        2. Một số tiêu chí đánh giá phát triển văn hóa đọc

        a) Phát triển

        Theo quan niệm của triết học phát triển hiểu là thuộc tính phổ biến của vật chất. Theo đó, mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến mà trải qua một loạt trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong. Điều đó có nghĩa là bất kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, luôn luôn chuyển sang trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn những trạng thái trước đây đã có, bởi vì trạng thái của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong mà cả những mối liên hệ bên ngoài [1]. 

         Theo Từ điển Tiếng Việt do học giả Hoàng Phê chủ biên, “Phát triển là biến đổi hay làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít tới nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [2]. Như vậy, có thể hiểu phát triển là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất lượng theo chiều hướng tăng lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.

           b) Phát triển văn hóa đọc

          Từ quan niệm trên về phát triển, tác giả bài viết cho rằng phát triển VHĐ là một quá trình làm thay đổi VHĐ từ trạng thái cũ sang trạng thái mới, đó là sự biến đổi cả về chất và lượng của quá  trình đọc của từng cá nhân, tập thể hay cộng đồng. Đối với cá nhân mỗi người, phát triển VHĐ là hình thành và ngày càng tăng cường nhu cầu đọc, thói quen đọc, kỹ năng tìm kiếm, xử lý và lĩnh hội thông tin, trong đó đặc biệt chú ý tới hình thành và nâng cao năng lực đọc: năng lực định hướng đọc, năng lực lĩnh hội tài liệu và thái độ ứng xử văn hóa với tài liệu, với môi trường đọc… VHĐ của mỗi cá nhân có thể được hình thành từ rất sớm trong cuộc đời con người. Ở mỗi cá nhân, VHĐ phát triển trên cơ sở sự thay đổi, phát triển các năng lực của cá nhân đó đối với việc đọc. Tuy nhiên, sự phát triển các năng lực cá nhân lại được diễn ra dưới tác động của nhiều yếu tố: môi trường sống, gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội... trong đó thư viện có vai trò đặc biệt quan trọng. Thư viện tham gia vào phát triển VHĐ cho cộng đồng xã hội với những ưu thế đặc biệt:

           Thư viện, đặc biệt hệ thống thư viện công cộng được tổ chức theo địa bàn cư trú của cư dân, hoạt động với phương châm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các tầng lớp nhân dân sử dụng tài liệu đã và đang thu hút được số lượng ngày càng đông người tới sử dụng thư viện hoặc tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức. Đây là nhân tố tích cực trong việc hình thành thói quen đọc, nhu cầu đọc cho mỗi người dân. Với các hoạt động hướng dẫn đọc đa dạng, hiệu quả, thư viện góp phần hình thành và phát triển kỹ năng đọc, tiếp nhận và sử dụng thông tin; thái độ trân trọng với tài liệu của bạn đọc…

           Như vậy, phát triển VHĐ đối với thư viện là việc tạo ra những điều kiện thuận lợi để thu hút ngày càng nhiều người dân tới sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của thư viện, để người dân ứng dụng có hiệu quả các thông tin nhận được qua việc đọc vào công việc, cuộc sống hàng ngày. Phát triển VHĐ của mỗi người hay của một cộng đồng chính là tạo những điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân hay cộng đồng đó có thể nâng cao năng lực đọc, hiểu và vận dụng tri thức đã đọc vào cuộc sống.

          c) Một số tiêu chí đánh giá

          Tiêu chí 1: Khả năng tiếp cận thư viện của người dân

        Tiêu chí này thể hiện ở các vấn đề: Thư viện có cách xa nơi ở, nơi làm việc, học tập của người dân; Thư viện có những quy định tạo điều kiện cho người dân sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của thư viện như thế nào; Các sản phẩm và dịch vụ của thư viện có thu phí hay không thu phí…

         Tiêu chí 2: Mức độ đáp ứng của vốn tài liệu với yêu cầu của người dân

        Tiêu chí này thể hiện ở các nội dung sau: Tổng số vốn tài liệu có trong thư viện và tính cập nhật trong việc bổ sung vốn tài liệu có đáp ứng nhu cầu đọc của người dân; Số tài liệu tính cho mỗi đầu người của nhóm dân cư trên địa bàn; Số lượng tài liệu bằng tiếng các dân tộc ở địa phương; Số lượng tài liệu phân theo lĩnh vực và theo từng loại ngôn ngữ của địa phương; Tài liệu địa chí…

         Tiêu chí 3: Bạn đọc và lượt bạn đọc

         Tiêu chí này thể hiện ở các chỉ số sau: Tổng số bạn đọc của thư viện và phân theo dân tộc, trình độ học vấn, tổng số lượt người sử dụng các dịch vụ thư viện trên tổng số dân, tính theo từng dân tộc và tính trên đầu người.

         Tiêu chí 4: Lượt sử dụng thư viện

         Trong đó phân ra: Lượt mượn tài liệu của thư viện (cả trong và ngoài thư viện) tính theo đầu người của cộng đồng dân cư nói chung và từng dân tộc trong cộng đồng. Lượt người tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức (Triển lãm sách, nói chuyện chuyên đề, thi kể sách…)

          Tiêu chí 5: Các sản phẩm, dịch vụ của tài liệu

         Tiêu chí này thể hiện ở các nội dung sau: Tổng số các sản phẩm và dịch vụ do thư viện tổ chức; Mức độ phù hợp và hiệu quả (số người tham gia/sử dụng) của từng sản phẩm và dịch vụ đối với các nhóm bạn đọc, trong đó có các nhóm dân tộc. Các hoạt động hình thành phát triển thói quen đọc, kỹ năng đọc, kỹ thuật đọc của người dân.

           Tiêu chí 6:Vai trò của chính quyền địa phương và các ngành liên quan đối với hoạt động thư viện

          Tiêu chí này được đo bằng: Mức độ tham gia của chính quyền vào việc đề ra chủ trương, chính sách, đầu tư về cơ sở vật chất - kỹ thuật, vốn tài liệu, nhân sự) và quản lý (kiểm tra, thanh tra…) thư viện trên địa bàn.

           Tiêu chí 7. Tiện nghi và văn hóa phục vụ bạn đọc của thư viện           

          Tiêu chí này thể hiện ở các nội dung sau: Diện tích nhà, trang thiết bị, tổ chức không gian, các quy định của thư viện dành cho người dân trong sử dụng thư viện. Số lượng nhân sự, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học; kỹ năng mềm trong giao tiếp, phục vụ bạn đọc. Sự hài lòng của bạn đọc đối với thủ thư và thư viện./.

TS. Đoàn Tiến Lộc

Chuyên viên chính Vụ Đào tạo, Bộ VHTTDL

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

          1) Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), Tập 3. H.: Nxb Từ điển Bách khoa.- tr 424.

          2) Từ điển Tiếng Việt (2000), Hoàng Phê chủ biên. H.: Trung tâm Từ điển học Đà Nẵng: Nxb Đà Nẵng.

          3) Hội Thư viện Việt Nam (2010), Cung cấp thông tin thông qua thư viện công cộng Việt Nam: Chuẩn đánh giá hoạt động và tác động, Hội Thư viện Việt Nam biên soạn (Bộ tiêu chí) dựa trên tài liệu hướng dẫn của UNESCO/IFLA về chủ đề này.

          4)  Hà Thu Cúc (1977), Vấn đề hoàn thiện công tác phục vụ cán bộ khoa học và các chuyên gia trong các thư viện khoa học tổng hợp, Luận án tiến sĩ, chuyên ngành thư viện Trường Đại học Leningrat (Thư viện Quốc gia Việt Nam).

    5) Pháp lệnh Thư viện: Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 28/12/2000. H.: Nxb Chính trị QG, 2001.  

          6) IFLA International Federation of Library Associations anhinstitutions - Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội và cơ quan thư viện.