04 Tháng Mười Hai 2022

Hợp tác đào tạo

Một số điểm cần lưu ý về quản lý cơ sở lưu trú du lịch thời gian tới

15 Tháng Mười 2018          2341 lượt xem

1. Thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch hiện nay

Cùng với sự lớn mạnh không ngừng của ngành Du lịch, hệ thống CSLTDL ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, phục vụ  nhu cầu đa dạng của hàng chục triệu lượt khách mỗi năm ở các mức chi tiêu khác nhau, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Từ năm 2012 đến năm 2017, CSLTDL tại Việt Nam tăng gần gấp 2 lần, từ 13.500 cơ sở lên đến 25.600 cơ sở, sức chứa tăng từ 285.000 phòng lên đến 508.000 phòng và vẫn đang tiếp tục tăng trưởng. Loại hình CSLTDL  ngày càng phong phú. Ngoài hai loại hình chủ yếu khách sạn và nhà nghỉ du lịch, đã xuất hiện căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, làng du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay), bãi cắm trại du lịch. Đặc biệt thời gian qua nổi lên loại hình mới: condotel, chia sẻ kỳ nghỉ dưỡng (time share) làm đa dạng lực lượng và cách thức vận hành CSLTDL.

Tính đến 31/12/2017, Việt Nam có:

  • Khách sạn: 118 khách sạn 5 sao với 34.400  buồng, 262  khách sạn 4 sao với 34.000  buồng, 490  khách sạn 3 sao với 34.200 buồng, 1264 khách sạn 2 sao (riêng khách sạn 2 sao giảm so với thời kỳ trước) với với 46000 buồng, 4740 khách sạn 1 sao  với  87.500 buồng.
  • Nhà nghỉ Du lịch: 7800 cơ sở, 94.800 buồng. 
  • Căn hộ du lịch: 4 căn hộ du lịch cao cấp 5 sao với 882 buồng, 3 căn hộ du lịch cao cấp 4 sao với 494 buồng, 1 căn hộ du lịch 2 sao với 20 buồng, 6 căn hộ du lịch 1 sao với 117 buồng, 7 căn hộ du lịch đạt chuẩn với 954 buồng, 2 căn hộ du lịch cao cấp với 262 buồng.
  • Biệt thự Du lịch: 3 biệt thự du lịch cao cấp với 75 buồng, 183 biệt thự du lịch đạt chuẩn với 2240 buồng.
  • Làng Du lịch: 01 làng du lịch 3 sao với  62 buồng, 01 làng du lịch 2 sao với  41 buồng, 01 làng du lịch 1 sao với  50 buồng.
  • Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê 1763  homestay với 12.500 buồng.
  • Tàu thủy lưu trú du lịch: 94 tàu 1 sao với 837 cabin, 91 tàu 2 sao với 1343 cabin.
  • Bãi cắm trại du lịch: 02 với 154 lều.

Làn sóng đầu tư tập trung vào các khu nghỉ dưỡng biển, nghỉ dưỡng núi, homestay, khu căn hộ du lịch chia sẻ kỳ nghỉ (timeshare) đã làm thay đổi sự phân bổ và cơ cấu CSLTDL. Miền bắc chiếm 46% về cơ sở và 35% về số buồng, miền trung - Tây Nguyên chiếm 29% về cơ sở và 39% về số buồng, miền nam có tốc độ tăng không bằng miền bắc và miền trung nên chỉ chiếm 25% về cơ sở và 26% về số buồng. Phân khúc 3-5 sao và cao cấp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn tại khu vực Nam Trung bộ (Khánh Hòa, Đà Nẵng, Bình Định, Bình Thuận), Phú Quốc, Lào Cai và các thành phố đông khách du lịch (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ…).  Cả nước có 16 tỉnh/thành phố có trên 9000 buồng gồm: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Đà Nẵng, Nghệ An, Lâm Đồng, Bình Thuận, Kiên Giang, Lào Cai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Phòng

2. Một số thách thức và rào cản

2.1 Thách thức

Việc tham gia khu vực kinh tế tự do ASEAN tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp du lịch trong nước và nước ngoài. Những lợi thế và bảo hộ dần được loại bỏ dẫn đến nguy cơ các doanh nghiệp Việt Nam có thể mất thị trường ngay trên sân nhà. Các nước ASEAN đã ký kết Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong du lịch, lao động các nước ASEAN có chung bộ tiêu chuẩn nghề và có thể tự do đi làm việc trong khu vực, sẽ hạn chế cơ hội việc làm của lao động Việt Nam nếu người Việt không cải thiện được trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng suất lao động.

2.2 Những rào cản

Thứ nhất: Rào cản về ý thức chấp hành pháp luật

Còn tồn tại CSLTDL chưa thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật, đặc biệt nhiều nơi chưa đáp ứng quy định về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường. Các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mới nhất chưa được những người thừa hành nghiên cứu, chưa được hiểu tường tận, dẫn đến việc áp dụng chưa chính xác hoặc chưa hiệu quả.

Thứ hai: Rào cản về kinh nghiệm, trình độ và nhận thức của Chủ đầu tư

Sự thiếu kinh nghiệm của chủ đầu tư dẫn đến những sai lầm trong quá trình đầu tư, duy trì chất lượng và phát triển thương hiệu. Nhiều chủ đầu tư chọn tư vấn thiết kế không đủ năng lực nên xây dựng công trình có nhiều bất cập, không đáp ứng công năng, khó vận hành, không đạt tiêu chuẩn theo mục đích ban đầu. Bên cạnh một số CSLTDL đã tạo dựng được thương hiệu, góp phần nâng cao uy tín của du lịch Việt Nam vẫn còn những đơn vị không duy trì được chất lượng như ngày đầu khai trương. Nhiều CSLTDL, đặc biệt là cơ sở quy mô nhỏ, để tiết kiệm chi phí, chủ đầu tư kiêm luôn quản lý điều hành nhưng thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu năng lực quản lý, kém ngoại ngữ nên cơ sở bị thiếu chuyên nghiệp trong thiết kế, bài trí, trang trí, hạn chế về chất lượng phục vụ, ít quan tâm tới đào tạo, nâng cao nghiệp vụ, ngoại ngữ cho nhân viên điều hành, sử dụng người lao động chưa chuyên nghiệp, dẫn đến tình trạng chất lượng phục vụ không đảm bảo, hiệu quả  thấp.

Thứ ba: Rào cản về nhân lực

Nhân sự chất lượng cao, lao động giỏi, người có khả năng điều hành, quản lý CSLTDL thiếu so với yêu cầu thực tế, không theo kịp sự tăng trưởng CSLTDL. Trình độ nhân viên chưa đồng đều, hạn chế về ngoại ngữ khiến chất lượng phục vụ nhiều nơi không đảm bảo tiêu chuẩn, khác biệt giữa vùng núi và đô thị, có khoảng cách giữa các khách sạn do tập đoàn quản lý khách sạn nổi tiếng của nước ngoài điều hành và các khách sạn do người Việt Nam điều hành. Nhiều CSLTDL từ 2 sao trở xuống, một số khách sạn hạng 3 sao ở vùng sâu, vùng xa khó tuyển dụng nhân viên, hạn chế đào tạo nên lao động tay nghề yếu, chất lượng phục vụ kém, nhân viên không giao tiếp được với người nước ngoài, không có nhiều cơ hội để thực hành nghề ở mức độ chuyên nghiệp cao, kiến thức học được dễ bị mai một.

Thứ tư, rào cản về môi trường, biến đổi khí hậu

Trong bảng đánh giá năng lực cạnh tranh của WEF năm 2016, Việt Nam cần cải thiện mức độ bền vững về môi trường (đang ở hạng 129), tập trung giải quyết những yếu tố dẫn đến tàn phá môi trường tự nhiên, đó là các quy định lỏng lẻo về môi trường (hạng 115), mức độ chất thải (hạng 128), nạn phá rừng (hạng 103) và hạn chế về xử lý nước (hạng 107).

Vừa qua, một số địa phương phát triển nóng về CSLTDL gây áp lực lớn lên hạ tầng, điện, nước, làm gia tăng tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, tác động đến khí hậu do phát thải khí nhà kính ngày càng tăng... Vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý nước thải, rác thải còn bất cập ở nhiều nơi. Hệ thống nước thải không được xử lý triệt để gây ô nhiễm môi trường, chưa có hoạt động tích cực phục hồi tài nguyên, cân bằng sinh thái. Túi nylon và đồ nhựa sử dụng tràn lan, phân loại rác chưa hiệu quả.

Nhiều CSLTDL Việt Nam đã và sẽ phải chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu: Sự tăng nhiệt độ khiến mùa nóng kéo dài hơn, các CSLTDL phải sử dụng hệ thống điều hòa, làm mát không khí với số lượng và công suất lớn hơn. Nước biển dâng, thiên tai ảnh hưởng đến cơ sở vật chất của nhiều CSLTDL. Khô hạn kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nước sạch của các khách sạn.

Nguyên nhân: Một số người chỉ tập trung vào mục đích hiệu quả kinh doanh, chưa quan tâm đến môi trường xã hội, cộng đồng địa phương, có những chủ đầu tư sử dụng quá mức tài nguyên gỗ, đá; ý thức khách chưa tốt, ví dụ: nhiều khách hút thuốc lá trong phòng ngủ hoặc tại các khu vực công cộng gây mùi hôi trong cơ sở dù đã được nhắc nhở, đơn vị không dám xử lý kiên quyết vì sợ mất khách...

Thứ năm, rào cản về hoạt động xúc tiến, quảng bá

Nhiều CSLTDL bị động và chưa chuyên nghiệp trong xúc tiến, quảng bá, phụ thuộc vào hệ thống đặt phòng quốc tế hoặc các hãng lữ hành, khó tìm nguồn khách riêng, đặc biệt là các homestay.

Thiếu thông tin. Cơ sở dữ liệu CSLTDL đạt chất lượng chưa thường xuyên cập nhật bằng tiếng Anh và tiếng Việt, ít tương tác với khách, trong khi các mạng đặt phòng khách sạn như agoda.com, booking.com, airbnb… đang phát triển rất mạnh. Hệ thống thông tin, chỉ dẫn chưa được đầu tư bằng ngôn ngữ thị trường trọng điểm.

Thứ sáu, rào cản do tính thời vụ

Yếu tố thời vụ ảnh hưởng lớn đến chất lượng, uy tín của nhiều đơn vị do thời gian thấp điểm, cơ sở vật chất bị xuống cấp, nhân viên không ổn định. Những thời gian cao điểm như lễ hội, nghỉ hè, nghỉ tết... do cung thấp hơn cầu dễ gây đến tình trạng nâng giá, ép giá, cung ứng dịch vụ không đảm bảo chất lượng.

Thứ bảy, rào cản về an ninh, an toàn, vệ sinh thực phẩm

Đã có nhiều du khách gặp cảnh bị cướp giật, tai nạn giao thông, mất đồ trong quá trình lưu trú để lại những ký ức không vui sau chuyến du lịch. Các đơn vị gặp khó khăn để tìm nguồn gốc thực phẩm sạch với giá thành hợp lý, không bị dư lượng thuốc trừ sâu, hóa chất bảo vệ nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thứ tám, sự phát triển CSLTDL, bất động sản du lịch nóng ở nhiều địa phương khiến cạnh tranh khốc liệt hơn, có thể có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ chín, chất lượng dịch vụ chưa duy trì ổn định

Không ít CSLTDL sau khi được công nhận hạng đã buông lỏng quản lý, không duy trì được sự đồng bộ về cơ sở vật chất, chưa quan tâm đúng mức đến bảo dưỡng thiết bị, tuyển nhân sự có chuyên môn nghiệp vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật một số nơi đã xuống cấp nhưng không được nâng cấp kịp thời, một số CSLTDL không sạch sẽ, nhân viên thiếu chuyên nghiệp, thái độ ứng xử với du khách thiếu lễ phép, thân thiện. Tình hình trên dù không phổ biến nhưng đã ảnh hưởng đến tính chuyên nghiệp, uy tín và hình ảnh du lịch Việt Nam.

Nguyên nhân: chi phí đầu vào tăng cao, công nghệ thay đổi nhanh... khiến giá thành tăng. Một số đơn vị thiếu vốn, thiếu nguồn thu để tái đầu tư, đặc biệt các thiết bị công nghệ cao như: năng lượng mặt trời, hệ thống xử lý nước thải… Một số công trình xây cũ, bất hợp lý, phải cải tạo đầu tư cuốn chiếu chắp vá, không hiệu quả.

Những thách thức trên cần sự tham gia, hợp lực để giải quyết của tất cả các bên liên quan, trong đó cơ quan quản lý du lịch các cấp đóng vai trò quan trọng.

3. Một số nội dung cần lưu ý trong công tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch gian tới

Trong 02 năm qua, Tổng cục Du lịch đã thực hiện chiến dịch thay đổi hình ảnh du lịch Việt Nam, bắt đầu từ các khách sạn 3 đến 5 sao, được dư luận xã hội, các cơ quan báo chí và cộng đồng doanh nghiệp đồng tình ủng hộ. Thời gian tới, công tác quản lý CSLTDL cần tập trung vào các hoạt động sau:

1)Tổ chức tuyên truyền quán triệt chủ trương, chiến dịch nâng cao hình ảnh, chất lượng dịch vụ hệ thống CSLTDL tới các địa phương

2) Phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về CSLTDL, đặc biệt là Luật Du lịch 2017, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, các tiêu chuẩn quốc gia có liên quan đến cơ sở lưu trú du lịch.

3) Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, rà soát hệ thống CSLTDL

4) Nâng cao chất lượng nhân lực du lịch

5) Tổ chức hệ thống hỗ trợ khách du lịch, theo dõi, nhận và xử lý phản hồi về chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch tại các địa phương.

6) Tôn vinh và khen thưởng các tập thể cá nhân có sáng kiến cải tiến chất lượng, cung cấp dịch vụ lưu trú tốt, được du khách đánh giá cao.

7) Tăng cường năng lực cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ. Tăng cường phối hợp, liên kết giữa du lịch với các ngành, lĩnh vực, giữa các vùng miền, địa phương để thực hiện công tác quản lý chất lượng lưu trú du lịch.

8) Tăng cường hỗ trợ của nhà nước để nâng cao chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch.

9) Tăng cường phân cấp trong quản lý, đảm bảo vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước, đồng thời tạo sự chủ động, năng động  của doanh nghiệp và sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư trong việc giám sát và quản lý chất lượng lưu trú du lịch. Nâng cao vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc đảm bảo môi trường, văn minh du lịch, an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại các khu, điểm du lịch.

10) Nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào hoạt động quản lý, kinh doanh du lịch.

11) Thực hiện bảo vệ môi trường, phát triển du lịch bền vững và khuyến khích hoạt động có trách nhiệm.

12) Hỗ trợ phát triển hiệp hội nghề nghiệp: hiệp hội khách sạn, nhà hàng, đầu bếp, bartender (pha chế đồ uống), đào tạo...

Thành viên các hiệp hội nghề nghiệp sẽ tăng cường giao lưu, hỗ trợ lẫn nhau, định hướng nghề nghiệp, nơi làm việc, đào tạo, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

Công tác quản lý nhà nước không chỉ làm theo đợt, theo phong trào mà cần thực hiện liên tục, kịp thời, linh hoạt, đồng bộ để đáp ứng sự vận động không ngừng, phù hợp với sự phát triển và thay đổi diễn biến của kinh tế văn hóa xã hội, môi trường..., đảm bảo đáp ứng nhu cầu khách du lịch, cộng đồng dân cư và mang lại hiệu quả, lợi ích chung. Chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch chỉ đạt được khi có sự cố gắng, chủ động hoàn thành trách nhiệm của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân tham gia./.

                                                                                                                                      Nguyễn Thanh Bình