04 Tháng Mười Hai 2022

Hợp tác đào tạo

TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ DÒNG TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM

06 Tháng Mười Hai 2018          2953 lượt xem

Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Sở dĩ tranh dân gian Việt Nam xuất hiện rất sớm là bởi, với hai loại chính là tranh tết và tranh thờ, tranh dân gian xuất hiện gần như cùng lúc với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và việc thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên.

Tranh dân gian Việt Nam dù có nhiều dòng tranh khác nhau nhưng nhìn chung đều được dựng hình theo kiểu lấy các nét khoanh, lấy các mảng màu và bao lại toàn hình. Các thành phần trong tranh không có một điểm nhìn cố định mà hầu hết được thiết kế để có thể quan sát di động, từ nhiều góc độ khác nhau. Cách tạo màu cũng vậy, tất cả đều nhằm làm cho bức tranh thật dễ nhìn.

Có rất nhiều dòng tranh dân gian đã từng xuất hiện tại Việt Nam. Trong số đó, có 4 dòng tranh được coi là lớn và phát triển nhất bao gồm: tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng và tranh Làng Sình.

1. Tranh Đông Hồ

Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam có xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Trước kia, tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.

Nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là ở chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy in tranh Đông Hồ được làm từ cây dó phủ lên một lớp phấn điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn – hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông để quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo chiều đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lắp lánh những mảnh điệp dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào trong quá trình làm giấy điệp; Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như: Màu hồng lấy từ gạch non. Màu đỏ lấy từ sỏi son, vỏ gỗ cây vang. Màu vàng từ hoa điệp vàng, hoa hòe, hoa vành vành. Màu đen từ lá tre đốt, than rơm đốt. Màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc. Màu xanh vỏ lá cây chàm, từ gỉ đồng… Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau  từ việc trộn lẫn các màu. Tuy nhiên, thông thường tranh Đông Hồ chỉ sử dụng tối đa 5 màu.

Tranh Đông Hồ có đặc điểm thường là những hình ảnh sung túc như: Đám cưới chuột, Hứng dừa, Gia đình gà… thể hiện mong muốn no ấm và hạnh phúc.

Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình,… Đôi khi những bức tranh Đông Hồ còn được những nghệ nhân trang trí kèm theo những từ chỉ dẫn hoặc những tứ thơ tình tứ, lãng mạn, cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ, giúp cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng và vô cùng độc đáo đến nhường nào. Các nghệ nhân Đông Hồ đã chuyển hóa những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại vào tranh dân gian với những cách thể hiện rất riêng.

Dân gian Đông Hồ là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia và cũng đang trong quá trình được đệ trình lên UNESCO để đề nghị công nhận Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.

2. Tranh Hàng Trống

Dòng tranh Hàng Trống phát triển ở các phố Hàng Trống, Hàng Nón (Hà Nội). Cách diễn hình tinh vi, phong phú trong khuôn khổ bức tranh và trong nhiều loại tranh. Khuynh hướng tranh trục cuốn phương Đông được sử dụng mạnh mẽ nhằm tạo không gian có nhiều mảng trống, gợi cảm và thanh cảnh theo thị hiếu của dân thành thị.

Tranh Hàng Trống nét mảnh, tinh, yểu điệu. Do sử dụng được mầu phẩm nên hoà sắc của tranh Hàng Trống rất phong phú, gợi được khối của không gian. Mầu thường là lam – hồng, có thêm lục – đỏ, da cam – vàng. Mầu phẩm tô bằng tay sau khi đã in các nét đen, pha ít hay nhiều nước mà có màu đậm nhạt. Tranh chỉ tạo khối ở nhân vật, không có khái niệm về không gian xa, gần.

Các tác phẩm tranh dân gian nổi tiếng như: Lý ngư vọng nguyệt, Thất đồng, Ngũ hổ, Tố nữ; bộ tranh truyện: Hoa Tiêu, Kiều… bộ tranh về cảnh dạy học, cảnh nhà nông hay các kiểu khác: canh, tiều, ngư, mục (nhà nông, tiều phu, đánh cá, chăn trâu); các tranh thờ: Tam toà Thánh Mẫu, Phật, Tứ phủ, Ngọc hoàng,… khiến cho dòng tranh có thể sánh ngang với bất cứ dòng tranh đồ hoạ danh tiếng nào.

Ước vọng hạnh phúc và dùng nhiều mô típ tượng trưng, màu sắc tươi sáng, nội dung vui vẻ, ngộ nghĩnh, đơn giản hóa các khái niệm triết học là tinh thần chính của dòng đồ họa trên, tranh thường được bán vào các dịp tết âm lịch. Hành nghề có tính phường thợ, cha truyền con nối.

3. Tranh Kim Hoàng

Tranh Kim Hoàng phát triển từ thế kỉ 18 đến thế kỉ 19. Sự hợp nhất hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng thành Kim Hoàng tiến tới xây dựng đình chung “Trưởng bảng hội đình” vào ngày 3-2 năm Chính Hòa thứ 22 (1701), cũng có lẽ chuẩn bị cho bắt đầu của nghề in tranh trong làng. Hàng năm, người Kim Hoàng làm tranh từ rằm tháng một (tháng 11 âm lịch) đến giáp tết, thoạt đầu thì cúng tổ nghề. Các ván in do một chủ phường có tài năng vẽ và khắc. Sau ngày giỗ tổ mới phát cho các gia đình. Trong quá trình in họ trao đổi ván cho nhau. Hết mùa tranh họ lại giao ván cho các chủ phường khác cất giữ.

Tranh Kim Hoàng cũng đủ loại tranh thờ cúng, chúc tụng như một số dòng tranh khác cùng thời (Đông Hồ, Hàng Trống). Nhưng tranh Kim Hoàng lại kết hợp được nhiều ưu điểm của hai dòng tranh đó. Tranh Kim Hoàng có nét khắc thanh mảnh, tỷ mỉ hơn tranh Đông Hồ; màu sắc tươi như tranh Hàng Trống. Về màu, tranh Kim Hoàng dùng mực tàu, trắng là thạch cao, phấn; chàm, xanh chàm từ mực tàu hoà với nước chàm và các màu hoá học. Giấy in không quét điệp như tranh Đông Hồ, cũng không dùng giấy xuyến như tranh Hàng Trống mà in trên giấy màu đỏ, giấy hồng điều, giấy tàu vàng. Tranh lợn bột in hình con lợn mình đen, viền trắng cách điệu rất ngộ nghĩnh giống như những con lợn đất bán ở chợ, trên nền giấy đỏ tạo một vẻ đẹp riêng gây ấn tượng mạnh mẽ của tranh Kim Hoàng.

Tương truyền, dòng họ Nguyễn Sĩ là dòng họ làm tranh sơ khởi người Thanh Hoá ra Thăng Long rồi lập nghiệp ở đây. Trận lụt năm 1915 làng mạc ngập trắng từ Phùng đến Cầu Giấy, cuốn trôi nhiều ván in tranh của làng. Tranh Kim Hoàng dần bị thất truyền, đến năm 1945 thì hoàn toàn không còn sản xuất nữa. Ngày nay, một vài ván in của dòng tranh này còn được lưu giữ ở bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam.

4. Tranh Làng Sình

Nghề làm tranh tại làng Sình (nằm ven bờ sông Hương, Huế) ra đời nhằm phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Tranh làng Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Với khoảng hơn 50 đề tài tranh phản ảnh tín ngưỡng cổ sơ, người dân thờ tranh cầu mong người yên, vật thịnh... Tranh có nhiều cỡ khác nhau, ứng với nó là kiểu in vẽ cũng khác nhau. In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Màu tô của tranh làng Sình tuy không được tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Điểm nổi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo nhất của nó lại là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên.

Lời kết

Trong kho tàng di sản văn hoá của dân tộc, tranh dân gian Việt Nam là một bộ phận quan trọng, thể hiện những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Cùng với những đổi thay của đất nước, tranh dân gian trong thời hiện đại không còn ở thời kỳ cực thịnh và đã phần nào mai một, nhưng những giá trị to lớn của mỗi dòng tranh vẫn còn đó, cần được nghiêm túc bảo tồn và phát huy./.

                                                                                                                                                     HẢI LONG

Tài liệu tham khảo:

Đàm Thanh (2005), Sức sống tranh Đông Hồ, Báo Sài Gòn Giải Phóng.

Maurice Durand (2011), Tranh dân gian Việt Nam (Sưu tầm và Nghiên cứu), NXB Văn hóa Văn Nghệ.

Trần Trung Hiếu (2017), Tranh dân gian Việt Nam: Lịch sử và các dòng tranh nổi tiếng, Handhome.net.