04 Tháng Mười Hai 2022

Hợp tác đào tạo

Tiếng Đế trong sân khấu Chèo hiện đại

10 Tháng Mười Hai 2018          3235 lượt xem

Nghệ thuật Chèo ra đời trong lễ hội ở làng xã nông thôn Việt Nam xưa và trở thành một phần không tách rời của lễ hội. Từ các trò diễn xướng đi lên, người diễn cũng là người xem, bởi vậy Chèo có đặc điểm ứng diễn - người diễn chan hòa với người xem, giao lưu và trao đổi trò chuyện với nhau rất mật thiết, tạo nên mối cộng cảm tự nhiên, kích thích tưởng tượng nơi khán giả, khơi gợi để họ cùng sáng tạo với diễn viên. Quan hệ giữa người diễn và người xem ấy được thể hiện rất rõ ở tiếng đế - vừa cùng ca hát, trao đổi, tranh luận, bình phẩm… trong suốt quá trình biểu diễn của diễn viên và diễn tiến của câu chuyện. Vì thế, trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của mình, trong Chèo cổ không hề có bức tường thứ tư mà luôn luôn được trình diễn trên sân khấu ba mặt, nằm giữa lòng quần chúng.

1. Khái quát về tiếng đế

Tiếng đế được hình thành từ giai đoạn ấu thơ của nghệ thuật Chèo và trở nên gắn bó với đời sống tinh thần của nhân dân lao động xưa. Tiếng đế còn mang đậm dấu ấn tâm lý người Việt cổ trong cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên và kẻ thù. Khi Chèo trở thành một loại hình nghệ thuật hoàn chỉnh, tiếng đế là dấu hiệu, là chứng tích của mối giao lưu người diễn và người xem trong mỗi đêm hội chèo năm xưa. Tiếng đế đã có mặt trong hầu hết các tình huống xuất hiện của nhân vật chèo khi ra sân khấu, gắn với nhiều mục đích khác nhau từ châm biếm, chế giễu đến phê phán mà mục tiêu quan trọng nhất là tạo nên những chuỗi cười vui, những giao lưu thân thiện khi người diễn - người xem gặp nhau ở đêm diễn chèo. Do đó, tiếng đế có vai trò quan trọng, tạo lập cho Chèo cổ nhiều giá trị trong việc khẳng định bản sắc riêng của mình. Song, cùng với thời gian, sự phát triển tất yếu của xã hội đã đưa chèo vươn lên thành loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp, rời xa phương thức sáng tạo ban đầu của mình. Cùng với đó, tiếng đế cũng có những biến thể phù hợp với xu thế phát triển ấy. Đó là tiếng đế nguyên bản thuộc về khán giả, của khán giả trong giai đoạn đầu, đến sự xuất hiện của bác thơ thì tiếng đế đã bị phân hoá. Những lời đế lên sân khấu dù hình thức vẫn là của khán giả, nhưng đã có sự tác động của bác thơ trong việc sáng tạo ra nó, dù chưa thật sự sâu sắc. Đến Chèo văn minh, Chèo cải lương và Chèo hiện đại thì sân khấu hộp đã khiến tiếng đế có sự thay đổi lớn, từ vị trí là tiếng nói của khán giả, trở thành tiếng đế của diễn viên, mà sâu xa là thuộc về tác giả. Sự thay đổi về hình thái này do bốn nguyên nhân chính là phương pháp sáng tác, phương thức biểu diễn, kịch bản và khán giả hiện đại chi phối.

2. Về phương pháp sáng tác

Kể từ phong trào Chèo cải lương, vị chủ suý Nguyễn Đình Nghị đã đưa sân khấu chèo tiếp cận đời sống hiện thực bằng cách xây dựng những nhân vật có thật như thầy ký, thầy thông, bà phán, nhà buôn, chủ chứa, gái làng chơi, lang băm, thầy cò, thầy kiện... Trong giai đoạn Chèo cách mạng, đứng trước nhu cầu phục vụ cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, nghệ thuật Chèo đã nghiêng về xu thế tả thực. Nhân vật trên sân khấu là anh bộ đội, chị dân công, cô thanh niên xung phong và những cô thôn nữ nơi hậu phương tham gia sản xuất… tức là những nhân vật có thật gần gũi với đời thường, hướng người xem đến mục tiêu vì độc lập dân tộc. Giai đoạn sau cách mạng đến nay, nghệ thuật chèo góp mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc bằng cách khắc hoạ hình ảnh con người mới trong đời sống hiện đại. Hầu hết những vở chèo về đề tài hiện đại đều xây dựng những nhân vật có thật, gắn với những sự kiện có thật như những gương sáng về phẩm giá, về lòng dũng cảm, sự sáng tạo trong lao động sản xuất, những doanh nhân thành đạt… Từ những nhân vật thật và sự kiện có thật, các tác giả chèo lại bị ảnh hưởng nhiều từ cách viết của kịch nói đã đẩy chèo sang phương pháp tả thực. Trong tâm thức của những người yêu chèo hẳn vẫn còn lưu giữ ấn tượng về một giai đoạn kịch chèo, kịch tuồng, kịch cải lương…? Tất cả đã làm mất đi không gian huyền thoại - một môi trường quen thuộc của tiếng đế. Trong Chèo cổ, cùng với yếu tố huyền thoại và tính chất giả định, không nhằm phản ánh hiện thực như nó tồn tại trong đời sống mà phản ánh hiện thực như nó có thể tồn tại. Trên cơ sở đó, nó nói được hiện thực đời sống mà không câu nệ hiện tượng đưa ra, nhưng lại phản ánh rõ được bản chất đời sống. Khi có Thị Kính cắt râu, Châu Long, Thị Phương... thì tiếng đế tồn tại hài hoà trong phương pháp nghệ thuật chung ấy. Ngày nay, phần lớn suốt chặng đường nửa sau thế kỉ XX, Chèo hiện đại được viết theo phương pháp tả thực, chịu ảnh hưởng của của kịch nói, và sự xuất hiện của tiếng đế giữa một không gian nghiêm túc lại trở nên lạc lõng, vô duyên khi cái ảo đứng bên cái thực…

3. Về kịch bản

Cả giai đoạn dài của Chèo cổ, chúng ta không được biết đến một tên tuổi tác giả nào. ở sân khấu chèo hiện đại, mỗi tác phẩm đều gắn với tên tuổi, phong cách của một tác giả cụ thể. Trong mỗi kịch bản, các tác giả đều quy định rõ nhân vật, không gian, thời gian, bố cục… không còn khoảng trống cho phần giao lưu ứng diễn của diễn viên và khán giả. Trước đây, tích diễn chỉ là một sườn truyện, khi lên sân khấu, người diễn viên được quyền ngẫu hứng tung hứng sáng tạo cùng khán giả, bởi vậy có rất nhiều lớp hài đặc sắc có thể áp dụng chung cho nhiều vở. Sở dĩ có sự lắp ráp này là bởi còn một khoảng trống thích hợp người soạn trò đã bỏ ngỏ dành phần cho nghệ sỹ biểu diễn. Trong khi đó, kịch bản chèo hiện đại bố cục chặt chẽ, trước khi công diễn được thẩm định nhiều lần, thời gian biểu diễn không được kéo dài quá ba tiếng đồng hồ... Khi biểu diễn trước công chúng, người nghệ sỹ phải diễn đúng phần đã trình duyệt mà không được phép có bất kỳ ngẫu hứng sáng tạo nào vượt ra ngoài khuôn khổ. Bởi vậy, trước một chỉnh thể đã hoàn thiện thì người xem trở thành người thưởng thức thụ động và không thể tồn tại mối giao lưu mật thiết như xưa nữa. Không tồn tại mối giao lưu này tức là không còn tiếng đế! Nếu có, đó chỉ là sự diễn lại của diễn viên đã được kịch bản quy định từ trước mà thôi.

4. Về phương thức biểu diễn

Chèo hiện đại được biểu diễn trên sân khấu hộp (ở thành phố, thị xã) và trên sân khấu tự tạo (ở các vùng chưa có nhà hát). Sân khấu được trang trí, có âm thanh, ánh sáng - tức là tạo nên một không gian tả thực mà là ảo trước mắt khán giả. Khán giả nhìn lên sân khấu giống như nhìn qua một lỗ khoá mà không được tham gia vào nội dung của vở diễn. Thậm chí, trong phòng khán giả phải tuyệt đối giữ trật tự để không làm phân tán diễn xuất của diễn viên và sự tập trung chú ý của người bên cạnh. Sân khấu hộp với bức tường thứ tư đã ngăn cách hoàn toàn sự giao lưu giữa khán giả và diễn viên. Thói quen thưởng thức thụ động này đã bắt đầu hình thành ở giai đoạn Chèo văn minh, đến Chèo cải lương và trở nên quen thuộc với khán giả Chèo hiện đại.

Khoảng cách này đã khiến khán giả và diễn viên trở thành hai thế giới độc lập, sáng tạo độc lập, nên dấu hiệu của mối giao lưu này mất đi. Nếu có, tiếng đế lúc ấy trở thành mục đích để tác giả minh hoạ cho thái độ của cộng đồng nơi nhân vật Chèo đang sống khen chê nhân vật - tức là một thế giới khác, tồn tại độc lập với thế giới của khán giả. Do đó, tiếng đế chỉ được diễn viên diễn lại - đóng vai trò quần chúng vắng mặt mà thôi.

5. Về khán giả của sân khấu Chèo hiện đại.

Khán giả ngày xưa đến xem chèo là thuộc lòng tích diễn, thuộc cả những mô hình nhân vật cố định nên có thể lẩm nhẩm hát cùng diễn viên, giao lưu cùng diễn viên qua những lời hỏi đáp. Người xem hôm nay am hiểu về Chèo rất ít, chính thói quen thưởng thức nội dung và tiếp nhận thụ động khiến khán giả không thể đế vào cho Chèo. Kịch bản Chèo hiện đại đầy dung lượng thông tin và luôn được viết mới đã tạo ra thói quen xem nội dung của khán giả.

Người xưa đi xem hát là để nghe nghệ nhân hát hay và diễn giỏi - thưởng thức về nghệ thuật. Vở diễn hôm nay tập trung nhiều vào tư tưởng chủ đề, vào ý đồ đạo diễn… Vì thế, khái niệm hay của khán giả hiện đại là nội dung có hấp dẫn không, tư tưởng chủ đề có sâu sắc không, chứ không giống người xưa bàn nhau xem nghệ nhân chiếng Đông diễn có hay hơn chiếng Đoài không?

Khán giả bây giờ là bộ phận độc lập của nghệ thuật sân khấu, họ đến xem chèo là xem nội dung và nhận xét về nội dung vì rất ít hiểu về nghệ thuật. Sự tiếp nhận thụ động ấy đã khiến khán giả hiện đại không thể là thành phần cùng tham gia sáng tạo, sáng tạo cùng lúc và tức thì. Nếu có, thì đó là sự sáng tạo độc lập trong tưởng tượng của họ mà thôi!

Trên thực tế có thể còn những lý do nữa đã đưa tới sự vắng mặt của tiếng đế trên sân khấu Chèo hiện đại. Nhưng trong quá trình khảo sát bước đầu, người viết thấy rằng đó là những nguyên nhân căn bản đã ngăn cản sự giao lưu của khán giả và diễn viên, đẩy tiếng đế mất đi, hoặc nếu còn thì lại đi khá xa so với bản chất thực của nó. Trên sân khấu Chèo hiện đại có thể nói là đã mất hẳn tiếng đế của khán giả, những gì còn tồn tại chỉ là kết quả sự diễn lại mà thôi.

Việc xây dựng dàn đế do diễn viên diễn lại, mô tả lại là cách làm chứng tỏ vị trí người kể chuyện của Chèo, tuy không còn giữ được sự dân chủ, hội hè như bản chất của tiếng đế nữa. Đây là sự phát triển tất yếu mà nếu chúng ta có đưa chèo về nông thôn, diễn ở sân đình như thuở xưa thì cũng không thể nào lấy lại không khí của một đêm diễn chèo ngày xưa nữa. Mà nếu muốn lấy lại cũng chẳng để làm gì ngoài thú tiêu khiển đơn thuần, bởi xã hội đã tiến những bước dài, đã tạo lập nên nhiều giá trị tích cực trong đó Chèo đã trở thành một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp, có chỗ đứng trong tâm hồn người Việt cũng như với nhiều du khách nước ngoài.

Nhân loại không ai quay trở lại được thời ấu thơ của mình. Giờ đây, chúng ta không mong quay ngược lịch sử để tái lập một sân khấu bình đẳng người diễn và người xem cùng trao đổi chuyện trò, mà muốn rằng nó vẫn tồn tại nhưng ở hình thức khác, cách làm khác trên sàn diễn chuyên nghiệp hôm nay. Chẳng hạn như hình thức sân khấu nhỏ - một cách để nối gần khoảng cách khán giả và diễn viên trên sân khấu. Còn với Chèo - sân khấu tự sự trữ tình, nếu những thành phần sáng tạo tuân thủ theo phương pháp tả thần, các thủ pháp cách điệu, ước lệ, giữ cho chèo một không gian huyền thoại có tính kỳ và sự lạ hoá thì chắc hẳn tiếng đế vẫn có cơ sở tồn tại dù chỉ được diễn lại. Dù sao, sự diễn này vẫn khẳng định tư cách người kể chuyện của chèo, mà vẫn giữ được không khí trang trọng của nhà hát.

Như vậy, từ khi chèo sân đình chuyển vào sân khấu hộp tiếng đế do những diễn viên chưa ra trò và dàn nhạc đảm nhiệm. Tiếng đế đã có những biến thể từ khi còn thuộc về khán giả, là tiếng nói của khán giả, đến thuộc về bác thơ - người soạn trò và là của tác giả được diễn viên diễn lại. Sự biến thể này đã cùng với sự trưởng thành của chèo để dần trở thành một hình thức sân khấu chuyên nghiệp nhưng cũng đưa chèo dần đánh mất đi một trong những đặc trưng nguyên bản của mình, từ bỏ dần vai trò người kể chuyện mà rơi vào lối bố cục kịch tính.

Hội diễn sân khấu Chèo truyền thống toàn quốc tại Hạ Long năm 2001 với mục tiêu phục hồi vốn cổ, người xem được thấy lại những vở diễn đã được gọt dũa thành truyền thống. Xem chèo, có tiếng đế và là tiếng đế đã được diễn lại, làm như tái hiện lại không khí của Chèo sân đình thuở nào. Vở Quan Âm Thị Kính của Đoàn chèo Thái Bình còn tái hiện không gian sân đình bằng mỹ thuật có cột đình, mái đình, hiên đình, sân đình… dàn nhạc ngồi một bên, dàn đế gồm các diễn viên chưa ra vai ngồi một bên để đế vào vở. Đây là tiếng đế được diễn lại, nhằm tạo ra không khí của những đêm Chèo sân đình khi xưa. Và rõ ràng, được như thế cũng đã là quý lắm! Sự trở về dù chỉ trong cảm giác thôi cũng khiến người xem bâng khuâng, nao nức lòng. Bởi trên sân khấu Chèo hiện đại - dù biết đó là tiếng đế đã được diễn lại nhưng cũng hiếm hoi vô cùng.

Hội diễn sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2005 tại Hạ Long đã được nhiều nhà nghiên cứu kết luận là kém nhất trong các kỳ hội diễn bởi nghệ thuật Chèo đã không còn giữ được phương pháp sáng tác của mình. Phần nhiều kịch bản được viết theo phương pháp tả thực và lối bố cục kịch tính, triển khai xung đột theo cách của kịch nói. Cho thấy, việc nắm vững phương pháp của Chèo đã khó, vận dụng được nó còn khó hơn nhiều. Trong hầu hết các vở Chèo đều không thấy sự xuất hiện của tiếng đế. Trước đây, trong một số vở Chèo hiện đại vẫn còn tiếng đế dù chỉ là diễn lại, nhưng cho đến hội diễn này thì cái giả cũng không còn nữa. Sự vắng bóng này rất đáng để các nhà làm chèo quan tâm, bởi hơn bao giờ hết, tiếng đế vẫn là một trong những thủ pháp khẳng định vai trò người kể chuyện của Chèo.

 Tiếng đế tuy giản dị, song thực chất lại có rất nhiều đòi hỏi cho sự tồn tại của mình. Một phương pháp tả thần, một đặc trưng tự sự - trữ tình, một không gian huyền thoại, một bút pháp lạ hoá từ những thủ pháp cách điệu, ước lệ… và đặc biệt phải có môi trường giao lưu giữa người diễn và người xem. Như vậy, những đòi hỏi tưởng như rất đỗi bình thường mà các nhà nghiên cứu vẫn thường nhắc đến mỗi khi nói đến yêu cầu của chèo nhưng cũng thực sự là khó khăn cho sự trở lại của tiếng đế. Bởi thế, chấp nhận một sự trở lại dù chưa phải là mình, nhưng tiếng đế cũng góp phần giúp chèo khẳng định rõ vai trò người kể chuyện, cho cái riêng không giống với các kịch chủng khác của Chèo.

                                                                                                                                        TS. Phạm Việt Hà

Tài liệu tham khảo

1. Trần Bảng: Chèo, một hiện tượng sân khấu dân tộc. NXB Sân Khấu- H.1994.

2. Hà Văn Cầu: Hề Chèo. NXB Văn hóa- H.1977.

3. Lê Thanh Hiền: Tổng luận nghệ thuật Chèo nửa sau thế kỷ XX - (tuyển chọn khảo cứu). NXB Văn Hoá Thông Tin - H.1996.

4. Trần Đình Ngôn: Kịch bản Chèo từ dân gian đến bác học. NXB Sân khấu - H.1996.

5. Trần Việt Ngữ - Hoàng Kiều: Bước đầu tìm hiểu Tiếng cười trong Chèo  cổ. NXB Khoa Học Xã Hội - H.1967.

6. Trần Quốc Thịnh: Những lời bông trong Chèo. NXB Văn hóa dân tộc - H.2002.