Hợp tác đào tạo

Một số nội dung đáng chú ý về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học

16 Tháng Mười Hai 2018          419 lượt xem

1. Một số thay đổi cơ bản của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật GDDH (Luật sửa đổi) so với Luật hiện hành gồm các nhóm chính sách mở rộng nâng cao quyền tự chủ đại học, cụ thể:

    Mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả của Tự chủ Đại học trong toàn hệ thống

   Đổi mới quản trị Đại học, tăng cường vai trò của Hội đồng trường, quy định các trường phải ban hành hệ thống quy định quy chế nội bộ, công khai minh bạch thông tin về các điều kiện đảm bảo chất lượng, tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp…

   Đổi mới quản lý nhà nước từ chỗ còn một số nội dung phê duyệt, cấp phép… theo Luật hiện hành sang việc kiện toàn hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, hướng dẫn thực hiện, tăng cường kiểm định chất lượng, tạo môi trường cạnh tranh nâng cao chất lượng; tăng cường kiểm tra, thanh tra, công khai kết quả kiểm định, thanh kiểm tra… để đảm bảo chất lượng.

   Chú trọng phát triển hệ thống, khuyến khích các trường kết hợp với nhau thành các đại học lớn để cộng lực và hợp tác phát triển, làm cho hệ thống hoạt động chất lượng, hiệu quả, có thể cạnh tranh quốc tế.

   Chú trọng phát triển các cơ sở Giáo dục Đại học tư thục, bình đẳng với các trường công về quyền tự chủ và cơ hội phát triển.

2. Thời gian, thủ tục hành chính sẽ giảm đáng kể để thúc đẩy các cơ sở Giáo dục Đại học tự chủ

   Mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả của Tự chủ ĐH để phát huy nội lực, sự năng động, sáng tạo và tính chịu trách nhiệm… để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ chỗ tự chủ chỉ 5 ĐH và 23 trường tự chủ ở mức cao, nay  Luật quy định mở rộng trong toàn hệ thống;

   Quy định cơ bản về Hội đồng trường, năng lực tự chủ đối với từng mặt hoạt động để nâng cao hiệu quả tự chủ, phân quyền tự chủ đến từng bộ phận cơ cấu và cán bộ giảng viên… Quyền tự chủ được đề cập đến toàn diện về chuyên môn, học thuật, tài chính, tổ chức và nhân sự, tự chủ đi liền với trách nhiệm giải trình…

    Với các điều khoản mới trong Luật Giáo dục Đại học lần này, thời gian và thủ tục hành chính sẽ giảm đáng kể. Ví dụ, trước đây, để mở ngành đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm nhân sự cấp cao, các trường phải báo cáo, đăng ký, đợi sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nay trường sẽ được quyết định ngay khi có đủ điều kiện. Đó là những cơ chế thúc đẩy cho hệ thống phát triển.

   Bên cạnh đó, từ những quy định của Luật, vai trò của Hội đồng trường đã được phân định rõ với ban giám hiệu. Việc kiện toàn bộ máy quản trị tạo điều kiện cho các trường phát huy sự năng động, sáng tạo của mình trong tất cả các phương diện hoạt động: học thuật, tài chính, nhân sự để phục vụ cho chính sách phát triển của nhà trường, đủ sức cạnh tranh trong toàn hệ thống và với quốc tế.

3. Bổ sung quy định khắt khe hơn để đảm bảo chất lượng

   Theo Luật, các trường tự chủ mở ngành theo các quy định hiện hành về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện đảm bảo chất lượng khác. Các tiêu chuẩn này hiện nay vẫn giữ như trong Luật, đồng thời bổ sung thêm những quy định khắt khe hơn để đảm bảo nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của các ngành mới mở như bổ sung các quy định về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp của trường đó trong những năm trước ra sao thì mới có thể được mở ngành mới hay nhà trường phải đảm bảo đáp ứng cơ chế kiểm định chất lượng.

   Cụ thể là trường phải được kiểm định và đạt kết quả kiểm định nhất định thì mới được mở các ngành của trình độ đại học, ngành đào tạo của trình độ đại học phải được kiểm định rồi mới được mở các ngành đào tạo thạc sỹ tương ứng, ngành đào tạo thạc sĩ được kiểm định rồi mới được mở ngành tiến sỹ phù hợp.

   Ngoài ra, việc mở ngành còn phải do hội đồng trường quyết định và theo đó, hội đồng trường theo quy định mới, không chỉ những người trong trường mà còn cả những người ngoài trường với tỷ tệ tối thiểu 30% là các nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội, nhà khoa học, các cơ quan của tổ chức khác. Những người này sẽ xem xét việc xã hội có cần ngành học đó hay không, điều kiện đảm bảo chất lượng của trường có đủ đáp ứng yêu cầu đào tạo của ngành học đó hay không. Điều đó có nghĩa rằng, nhà trường phải cân nhắc tới năng lực của mình có đáp ứng được yêu cầu đào tạo đó không.

   Thời gian qua, đã xảy ra tình trạng nhiều trường ĐH mở ngành với “tốc độ cao”, chưa tương xứng với tốc độ đầu tư đảm bảo điều kiện chất lượng, nhiều tên ngành đào tạo không hình dung được sự khác biệt với các tên ngành đã mở và vị trí việc làm của người học sau khi tốt nghiệp. Điều này sẽ được xử lý trong Luật sửa đổi, cụ thể:

   Theo Luật SĐBS MSĐ của Luật GDĐH (Luật mới), các cơ sở GDĐH có quyền tự chủ trong hoạt động chuyên môn bao gồm: ban hành, tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn chất lượng, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác trong và ngoài nước phù hợp với các quy định của pháp luật.

   Tuy nhiên, tự chủ về học thuật không có nghĩa là không có sự quản lý, kiểm tra, giám sát.

   Khoản 4, Điều 33 về Mở ngành đào tạo có quy định, “Cơ sở giáo dục Đại học tự mở ngành khi chưa đảm bảo các điều kiện theo quy định thì bị đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo đó và không được tự chủ mở ngành trong thời hạn 05 năm kể từ khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền”.

   Đồng thời, để đảm bảo chất lượng, đảm bảo quyền lợi người học, Khoản 5 điều 33 của Luật cũng quy định: trước khi khóa đầu tiên tốt nghiệp, chương trình đào tạo phải được đánh giá chất lượng; ngay sau khi khóa đầu tiên tốt nghiệp, chương trình đào tạo phải được kiểm định theo quy định tại Luật này. nếu không thực hiện đánh giá, kiểm định hoặc kết quả đánh giá, kiểm định không đạt yêu cầu thì cơ sở giáo dục đại học không được tiếp tục tuyển sinh, phải có trách nhiệm cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, đảm bảo quyền lợi cho người học.

   Điều này nhằm ngăn chặn tình trạng, nhiều trường ĐH mở ngành, tuyển sinh ồ ạt, nhưng không đảm bảo chất lượng, thiếu hụt giáo viên, cơ sở vật chất dẫn tới đào tạo kém chất lượng, cho ra trường sinh viên không đáp ứng chuẩn đầu ra.

   Luật cũng quy định quyền tự chủ phải đi đôi với trách nhiệm giải trình. Cụ thể là: cơ sở GDĐH có trách nhiệm báo cáo, thông tin đối với người học, xã hội, cơ quan quản lý, chủ sở hữu và các bên liên quan về việc tuân thủ các quy định của pháp luật và thực hiện đúng các quy định, cam kết của cơ sở GDĐH. Những thông tin về chỉ tiêu tuyển sinh, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, học phí, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm đều phải công khai trên kênh thông tin chính thức của trường để người học xã hội tham khảo, giám sát.

   Luật cũng ghi rõ, nhà trường phải tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, đặc biệt là trách nhiệm thực hiện kiểm toán, thực hiện công khai về chất lượng, mức học phí, các khoản thu dịch vụ của nhà trường cũng như chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không thực hiện các quy định, cam kết bảo đảm chất lượng đào tạo.

   Điều đó có nghĩa là, các cơ sở GDDH có trách nhiệm giải trình về các hoạt động mà nhà trường được tự chủ, trong các lĩnh vực: mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác trong và ngoài nước, tổ chức, nhân sự, tài chính và tài sản.

   Thay vì tập trung xử lý các sự vụ, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ tập trung xây dựng và ban hành chiến lược, định hướng, quy hoạch, kế hoạch; quy định cơ chế tự chủ, các chuẩn chất lượng trong giáo dục đại học (bao gồm chuẩn cơ sở giáo dục đại học, chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn giảng viên, cán bộ quản lý và các chuẩn khác) để tạo hành lang pháp lý, kiến tạo và định hướng phát triển GDĐH.

   Nhà nước cũng có trách nhiệm xây dựng, quy định cơ chế huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển giáo dục đại học; thực hiện các biện pháp hỗ trợ thông qua việc phân loại, thống kê ngành đào tạo, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu thông tin cho cơ sở đào tạo, cá nhân, tổ chức có liên quan.

   Bên cạnh đó, Luật mới cũng quy định biện pháp công khai minh bạch thông tin, kiểm định chất lượng, thanh tra kiểm tra, xử ký vi phạm và công khai kết quả kiểm định, thanh tra để người học, các cơ quan quản lý có thẩm quyền và xã hội cùng giám sát.

   Như vậy, với việc phân cấp, phân quyền rõ ràng như trong Luật GD ĐH sửa đổi bổ sung, thì những vấn đề về tuyển sinh, chỉ tiêu, mở ngành hoặc bổ nhiệm nhân sự, định mức học phí là trách nhiệm và quyền của các trường ĐH. Bộ GD&ĐT xây dựng các chuẩn chất lượng, cơ chế, chính sách, hướng dẫn, tổ chức thực hiện; thúc đẩy cạnh tranh nâng cao chất lượng… và thông qua thanh tra, kiểm tra, giám sát của xã hội để quản lý, phát hiện những cơ sở GD vi phạm để áp dụng chế tài xử phạt theo đúng Luật định, công khai kết quả xử lý vi phạm để phòng ngừa chung.

4. Tự chủ nhưng phải giải trình để đảm bảo chất lượng đào tạo

   Có thể nói, Luật mới quy định cho cơ sở đào tạo các quyền tự chủ khá toàn diện về chuyên môn, tổ chức bộ máy, tài chính, tài sản và gắn với các quyền tự chủ đó là trách nhiệm giải trình. Tất cả đều hướng tới mục đích đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học. Trách nhiệm phải đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường được quy định trong nhiều nội dung tại các điều được sửa trong các chương IV, V, VI, VII về đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, đảm bảo chất lượng đào tạo

   Quy định trực tiếp về vấn đề này tập trung ở Điều 50 về Trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục đại học có quy định: các trường ĐH, ĐH phải xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục đại học phù hợp với sứ mạng, mục tiêu và điều kiện thực tế của nhà trường.  Xây dựng chính sách bảo đảm chất lượng, kế hoạch bảo đảm chất lượng giáo dục đại học; Tự đánh giá, cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo; định kỳ đăng ký kiểm định chương trình đào tạo và kiểm định cơ sở giáo dục đại học.

   Trong chu kỳ kiểm định theo quy định, nếu cơ sở giáo dục đại học không thực hiện kiểm định chương trình hoặc kiểm định chương trình không đạt yêu cầu thì trường phải có trách nhiệm cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo cho người học đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

   Sau 2 năm, nếu không thực hiện kiểm định lại chương trình hoặc kiểm định lại nhưng không đạt thì cơ sở giáo dục đại học phải dừng tuyển sinh đối với chương trình đào tạo đó, phải đảm bảo quyền lợi cho sinh viên.

   Trường cũng phải duy trì và phát triển các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, gồm: đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, nhân viên; chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập; phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện, hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở thực hành; nguồn lực tài chính, ký túc xá và các cơ sở dịch vụ khác. Đây chính là căn cứ để thanh kiểm tra định kỳ thường xuyên.

   Hàng năm, Trường phải có báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu chất lượng theo kế hoạch bảo đảm chất lượng giáo dục đại học; công bố công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, kết quả đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng, kết quả đánh giá và kiểm định chất lượng trên trang thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của cơ sở giáo dục đại học và phương tiện thông tin đại chúng./.