13 Tháng Mười Một 2019

Công tác học sinh - sinh viên

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYỂN SINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

18 Tháng Giêng 2017          4381 lượt xem

Để thực hiện từng bước Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngay từ năm 2014 Bộ GDĐT đã có văn bản quy định về xây dựng Đề án tự chủ tuyển sinh đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) hệ chính quy, song hành với Quy chế Tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy các năm 2015, 2016 và gần đây là Phương án kỳ thi THPT quốc gia năm 2017. Nó mở ra từng bước tự chủ nói chung và tự chủ trong tuyển sinh, đào tạo nói riêng cho các trường ĐH, CĐ trong giai đoạn hội nhập quốc tế và khu vực.

1. Thực trạng công tác tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng trong cả nước hiện nay

Năm 2015 (thời điểm 24.9.2015), Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận được báo cáo của 308 trường (4 ĐH, 171 trường ĐH, học viện và 133 trường CĐ) trên tổng số khoảng 400 trường xét tuyển từ điểm thi THPT quốc gia. Theo đó, có 86 trường ĐH,CĐ tuyển được 100% chỉ tiêu ngay từ đợt 1, 123 trường ĐH và 52 trường CĐ tuyển được từ 50% chỉ tiêu trở lên. 100 trường báo cáo tuyển sinh được dưới 30% sau đợt 1 xét tuyển.

- Đợt 1 có 73% thí sinh /500.000 thí sinh đã trúng tuyển. 

- Đợt 2 có trên 50 trường ĐH,CĐ xét, có những trường ĐH còn hàng nghìn chỉ tiêu chờ đợi thí sinh nhập học.

- Đợt 3 có 20 trường tiếp tục tuyển sinh. (6 trường ĐH và 14 trường CĐ). Có trường dự kiến xét tuyển gần 1000 chỉ tiêu, theo cả hai phương thức xét tuyển kết quả học tập năm lớp 12 và xét tuyển kết quả kỳ thi THPT quốc gia 2015, nhưng thực tế chỉ nhận được vài chục hồ sơ ở rải rác các ngành học.

Năm 2016, theo Quy chế thí sinh không được đổi nguyện vọng khi đã nộp hồ sơ. Theo thống kê của Bộ GDĐT, tính đến thời điểm ngày 27.6.2016, số lượng thí sinh dự thi THPT quốc gia năm 2016 là 887.396, giảm 118.258 thí sinh so với năm 2015. Trong đó có 286.129 em thi chỉ để xét tốt nghiệp THPT (chiếm tỉ lệ 32%); 519.497 thí sinh thi để xét tốt nghiệp THPT và xét tuyển sinh ĐH,CĐ (chiếm tỉ lệ 59%); và 81,770 thi chỉ để xét tuyển sinh ĐH, CĐ (chiếm tỉ lệ 9%).

- Số lượng thí sinh đăng ký xét tuyển sinh ĐH, CĐ chiếm tỉ lệ 68%, có khoảng 603.430 em.

- Theo thống kê của Bộ GDĐT, số thí sinh đạt từ 15 điểm trở lên có hơn 400.000 (tính cả ưu tiên đối tượng và ưu tiên khu vực), giảm khoảng 120.000 so với năm 2015. Trong khi chỉ tiêu xét tuyển bằng kết quả thi THPT quốc gia về cơ bản không thay đổi, khoảng 320.000.

Năm 2016 mỗi thí sinh được nộp hai trường, mỗi trường hai nguyện vọng (4 cơ hội vào đại học) Với việc thí sinh được nộp hai trường, mỗi trường hai ngành trong đợt đầu tiên, về lý thuyết, tỉ lệ thí sinh ảo ở các trường lên đến 50%.

Trong bối cảnh chung như trên, các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ VHTTDL  cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh:

- Năm 2015, nhiều trường chỉ tuyển được 50-60%, thực hiện cả xét tuyển học bạ THPT, song song với sử dụng kết quả kỳ thi THPT Quốc gia, tuy nhiên, nhiều trường vẫn không tuyển đủ số chỉ tiêu đã xác định.

- Năm 2016, các trường đã tích cực nghiên cứu các phương án, đề ra nhiều biện pháp nhằm thu hút nguồn tuyển, nhằm tạo thuận lợi tối đa cho thí sinh đăng ký dự thi, như: tiếp tục thực hiện Đề án tuyển sinh riêng, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá, tư vấn tuyển sinh đến các trường trung học phổ thông, có nhiều chính sách ưu đãi trong công tác tuyển sinh. Có một số trường khối Du lịch tuyển sinh gần đạt, hoặc vượt kế hoạch đề ra (Trường CĐ nghề Du lịch Nha Trang: 106,7%; Trường CĐ Du lịch Đà Nẵng: 104,8%, Trường CĐ Du lịch Hải Phòng: 129%, Trường CĐ Du lịch HN: 97,95%...). Bên cạnh đó, có một số trường khối VHNT và TDTT tuyển sinh đạt ở mức rất thấp, dưới 60% (Học viện Âm nhạc Huế: 36.8%; Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai: 36,4%, trường Cao đẳng VHNT Tây Bắc: 29,8%, trường Cao đẳng VHNT Việt Bắc: 25,5%; Trường ĐH TDTT Bắc Ninh: 37,44%, Trường ĐH TDTT TPHCM: 49%, Trường ĐH TDTT Đà Nẵng: 28%; Trường CĐ Du lịch Đà Lạt: 32%.

2. Những nguyên nhân khó khăn trong công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng giai đoạn hiện nay.

2.1. Đối với các cơ sở đào tạo chung trong cả nước

- Số lượng thí sinh đã giảm đều từ nhiều năm nay. Nếu như năm học 2006 - 2007 có tới 3,075 triệu học sinh thì tới năm học 2012-2013, số lượng học sinh là 2,675 triệu, năm học 2013-2014 là 2,532 triệu, năm học 2014-2015 là 1,005 triệu, năm học 2015-2016 là 887.396.

Số học sinh tốt nghiệp THPT cũng giảm tương ứng, từ gần 950 nghìn vào năm 2013 xuống hơn 871 nghìn vào năm 2015. Từ đó, số thí sinh đăng ký dự thi ĐH,CĐ cũng giảm sau mỗi mùa tuyển sinh, từ 1,7 triệu thí sinh dự thi vào năm học 2011-2012 xuống còn 887.396 thí sinh ở kỳ thi 2015-2016. Thực tế cho thấy, năm 2015 thi THPT quốc gia có hơn 1.005.654 thí sinh dự thi, nhưng năm 2016 tổng thí sinh dự thi chỉ còn 887.396 thí sinh, giảm hơn 118.000 thí sinh (12%). Trong đó, số thí sinh dự thi chỉ để xét tốt nghiệp là 286.129 thí sinh (32%), thí sinh thi xét tốt nghiệp THPT và xét tuyển sinh ĐH-CĐ là 519.497 (59%). Thí sinh tự do thi lấy kết quả xét ĐH-CĐ là 81.770 (9%). Tổng số thí sinh đăng ký xét ĐH-CĐ năm 2016 là 601.267 thí sinh (68%). 

- Số lượng trường ĐH,CĐ mới được thành lập tăng mạnh

Trong khi lượng thí sinh ngày càng ít đi thì số trường lại có xu hướng tăng mạnh. Trong vòng 10 năm gần đây đã có thêm 213 trường mới được thành lập, góp phần làm tăng tổng số trường ĐH,CĐ cả nước lên gần gấp đôi. Tính đến năm 2016 có 478 trường ĐH-CĐ, vượt xa Quy hoạch mạng lưới các trường ĐH,CĐ đến năm 2020 cả nước có 460 trường ĐH và CĐ, bao gồm 224 trường ĐH và 236 trường CĐ.

- Việc Bộ GDĐT đồng ý điều chỉnh tăng chỉ tiêu bậc ĐH cũng gây khó khăn cho nhiều trường ĐH top dưới. Chỉ tiêu của các trường hằng năm cũng tăng cao, từ hơn 165.000 vào năm 2001 lên 640.000 năm 2014. Đến năm 2016, tổng chỉ tiêu tuyển sinh ĐH-CĐ từ các trường gửi về Bộ GD-ĐT lại lên đến 647.000, trong khi tổng số thí sinh cả nước dự thi THPT quốc gia 2016 để xét tốt nghiệp và xét ĐH-CĐ chỉ có 601.267 thí sinh. Do đó, nếu trừ đi khoảng 5% số thí sinh bỏ thi, thí sinh rớt tốt nghiệp cùng 19.000 thí sinh bị điểm liệt (năm 2016) thì số thí sinh còn lại đủ điều kiện tham gia xét tuyển ĐH-CĐ sẽ giảm rất nhiều. Tình hình đó đẩy mức độ gay gắt trong cuộc cạnh tranh tuyển sinh giữa các trường ĐH-CĐ lên rất cao.

- Năm 2015 với 3 nguyện vọng đăng ký tạo cho thí sinh có quá nhiều cơ hội lựa chọn, lại thêm thời gian các đợt xét tuyển quá dài, nên đa phần các em nộp hồ sơ vào các trường ĐH top trên. Khi không được mới chuyển sang các trường ĐH top dưới. Năm 2016 tình hình được cải thiện hơn.

- Ngưỡng điểm bảo đảm chất lượng đầu vào của bậc ĐH năm nay khá thấp. Mức chênh lệch về điểm số giữa học bạ bậc ĐH và CĐ quá thấp (6 điểm so với 5,5 điểm) là một trong những nguyên nhân khiến các trường CĐ khó thu hút thí sinh vì hiện nay, tâm lý thí sinh và phụ huynh vẫn muốn vào ĐH hơn. Việc vào ĐH quá dễ dàng khi các trường top trên công bố phương án xét tuyển theo kết quả học bạ THPT (trong đó có nhiều trường ĐH tên tuổi như : Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội, Trường ĐH Tài chính - Ngân hàng Hà Nội,....), thu hút hết thí sinh của các trường top dưới.

- Quy chế tuyển sinh ĐH,CĐ cũng thay đổi, Bộ GD-ĐT thông báo gỡ điểm sàn tuyển sinh của các trường ĐH có sự thay đổi theo hướng mở rộng, lấy tối đa số thí sinh dự tuyển nên sẽ tác động rất lớn đến công tác tuyển sinh cũng như chất lượng đầu vào của các trường CĐ. Bởi, có những trường ĐH,CĐ xét tuyển, học sinh đạt điểm trung bình học tập trên 6,0 có thể vào học, vì vậy thí sinh lựa chọn nộp hồ sơ theo học tại các trường ĐH top trên, gây khó khăn trong tuyển sinh của các trường ĐH top dưới.

- Số lượng sinh viên tốt nghiệp ra khó xin được việc làm. Do chính sách thắt chặt biên chế (2 biên chế về hưu mới có 1 được tuyển mới), nên  số lượng sinh viên nói chung và đặc biệt sinh viên ngành văn hóa, TDTT tốt nghiệp ra trường rất khó xin được việc làm đã tác động không nhỏ đến tâm lý người học và các bậc phụ huynh. “Quý III /2015 cả nước có 225.000 người có trình độ cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp”, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê đã công bố Bản tin thị trường lao động quý 3-2015. 

 

- Một bộ phận thí sinh sau khi tốt nghiệp THPT muốn đi làm ngay. Sau khi tốt nghiệp THPT, thí sinh đã được phân luồng tốt hơn khi có rất nhiều em "đầu quân" vào các khu công nghiệp mới. Hàng trăm Trung tâm Tuyển người đi lao động ở Nhật, Hàn Quốc với hàng trăm em trong một đợt tuyển.

- Học phí và các chi phí cho việc học quá cao, trong khi điều kiện kinh tế của gia đình các em lại khó khăn.

- Lương sau khi ra trường nếu xin được việc làm cũng quá thấp không đủ những chi phí tối thiểu để duy trì cuộc sống cũng ảnh hưởng lớn tới việc đạt được chỉ tiêu tuyển sinh của các trường.

- Chất lượng, uy tín, thương hiệu của nhà trường cũng là yếu tố không nhỏ gây ảnh hưởng tới chỉ tiêu tuyển sinh của các trường.

2.2. Ngoài những khó khăn chung trong công tác tuyển sinh như các cơ sở đào tạo khác trong cả nước thì các CSĐT văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch còn có những khó khăn và nguyên nhân cụ thể như sau

- Thí sinh có nhiều cơ hội xét tuyển vào các trường khác.

- Để đảm bảo chất lượng đào tạo, các CSĐT đề ra tiêu chí tuyển sinh đầu vào và quy trình đào tạo yêu cầu khắt khe, cao hơn các CSĐT đại trà có đào tạo các ngành trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao. Vì hiện nay, có nhiều trường đại học đại trà được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở các ngành đào tạo trong lĩnh vực nghệ thuật và thể dục thể thao.

- Cơ hội việc tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp hạn chế; chi phí phục vụ học tập cao; tuổi nghề ngắn.

- Một số cơ sở chưa có kinh phí hỗ trợ cho các địa phương giúp đỡ nên công tác thông tin, tuyên truyền chưa được sâu rộng, ít đến được các vùng sâu, vùng khó khăn.

- Một số trường đã chọn thời gian tổ chức thi tuyển sinh không trùng với các trường cùng ngành và chuyên ngành nên thí sinh có cơ hội dự thi được nhiều trường, khiến cho số thí sinh nhập học ít hơn hơn số thí sinh trúng tuyển vì thí sinh có nhiều lựa chọn khi có kết quả.

- Cơ chế thị trường tạo tâm lý lựa chọn các ngành nghề có thu nhập cao sau khi ra trường, hơn việc lựa chọn ngành nghệ thuật, thể thao có đặc thù đào tạo mất nhiều thời gian, đầu tư lớn và đòi hỏi phải có năng khiếu.

- Tâm lý của phụ huynh và học sinh mong muốn được học đại học, hơn là học nghề. Chương trình đào tạo nghề còn có điểm dừng, các cơ chế liên thông chưa thuận lợi, chưa đáp ứng nhu cầu học lên cao của người học, dẫn đến tâm lý một số học sinh không thích vào học ở trường nghề; một loạt các trường đại học được mở ra, đa dạng cấp độ, đa dạng ngành nghề, hình thức đào tạo và hình thức tuyển sinh, người học chỉ cần đỗ tốt nghiệp là vào thẳng đại học.

- Sự phát triển các khu công nghiệp như VSIP, Tràng Duệ, Normura… thu hút một lượng lớn nhân lực. Hay hình thức du học vừa học vừa làm, chi phí không cao tại các quốc gia trong khu vực Châu Á là sự lựa chọn được nhiều gia đình và các học sinh quan tâm; thu nhập của lao động trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ còn thấp so với một số ngành nghề khác.

- Học sinh lựa chọn đi học nước ngoài với mục đích phát triển kỹ năng mềm, cơ hội trải nghiệm cuộc sống và cơ hội được tuyển dụng cao sau khi về nước.

3. Đề xuất giải pháp và kiến nghị khắc phục khó khăn, hạn chế trong công tác tuyển sinh

3.1. Đối với các cơ sở đào tạo

- Thành lập Trung tâm tuyển sinh và tư vấn việc làm. Thành lập các tổ công tác để về các trường THPT tiến hành tuyên truyền, vận động, giới thiệu, tư vấn tại các trường THPT trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng tuyển của trường để thu hút tuyển sinh với những chế độ ưu đãi, hỗ trợ sinh hoạt phí, học bổng, giảm học phí, tạo điều kiện thuận lợi về nơi ở cho sinh viên…

- Ngay từ trước mùa tuyển sinh, tất cả nguồn nhân lực, kinh phí, phương tiện, thời gian đều được ưu tiên để phục vụ công tác tuyển sinh. Cùng với các biện pháp, giải pháp mang tính thời vụ, đặc trưng, thì các cơ sở đào tạo cũng đã xây dựng các kế hoạch mang tính chiến lược.

- Tạo điều kiện tốt nhất cho thí sinh: duyệt hồ sơ ngay cho thí sinh. Nếu thí sinh nào đủ điều kiện thì sẽ có giấy báo nhập học ngay sau đó. Nhà trường hỗ trợ về thủ tục một cách nhanh chóng cho các em nhập học.

- Đổi mới phương thức tuyển sinh từ phương thức thi tuyển môn năng khiếu, tạo ra sự linh hoạt hợp lý trong tuyển sinh; chủ động nghiên cứu mở các chuyên ngành đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội

- Tích cực triển khai đào tạo hệ ĐH theo địa chỉ, đào tạo nguồn nhân lực cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nhất là ở các tỉnh thuộc Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

- Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo

+ Thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạt động, từng bước mở một số mã ngành đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Đồng thời chuyển đổi liên kết đào tạo với các trường ĐH trong và ngoài tỉnh để thu hút người học cũng như đáp ứng yêu cầu thị trường.

+ Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu xã hội. Xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng mới và đào tạo lại đáp ứng nhu cầu xã hội. Tiết giảm, thậm chí bỏ bớt một số nội dung môn học.

+ Các cơ sở đào tạo cần chủ động hợp tác với các đơn vị sử dụng nhân lực sau đào tạo, các doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo, gắn lý thuyết với thực hành, trong việc tạo điều kiện để học viên tiếp cận thực tế, thực tập tại đơn vị, doanh nghiệp. Đặc biệt cần giới thiệu việc làm cho học viên sau khi tốt nghiệp. Tham khảo ý kiến doanh nghiệp về mức độ đáp ứng công việc của học viên sau tốt nghiệp từ đó bổ sung, điều chỉnh phương pháp giảng dạy, trang bị kiến thức, kỹ năng cho học sinh, sinh viên phù hợp với yêu cầu thực tế công việc; Phát huy vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp trong đào tạo nghề cả đào tạo mới và bồi dưỡng và đào tạo tại chỗ; Tăng cường giáo dục hướng nghiệp du lịch và đào tạo nghề du lịch trong cộng đồng, đặc biệt là trong hệ thống cơ sở giáo dục phổ thông trung học cơ sở và trung học phổ thông.

3.2. Những đề xuất, kiến nghị

- Bộ Giáo dục và Đào tạo:

+ Hạn chế việc cho phép các cơ sở đào tạo đại trà tuyển sinh các ngành năng khiếu nghệ thuật, TDTT.

+ Xem xét cho phép các trường TDTT đủ điều kiện được phép cấp Chứng chỉ Nghiệp vụ Sư phạm cho sinh viên trước khi ra trường, tạo điều kiện cho các em có cơ hội thuận lợi hơn trong khi đi xin việc. Cụ thể ngành Giáo dục thể chất (Mã số: 521402206) Tên chương trình: Đào tạo giáo viên Thể dục Thể thao, đã được xác định trong Danh mục đào tạo cấp IV (ban hành theo Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-BGDĐT ngày 08/5/2014) thuộc lãnh vực Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên.

- Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

+ Làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo để có biện pháp tháo gỡ những vướng mắc trong tuyển sinh khối các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ.

+ Hỗ trợ kinh phí cho các CSĐT trong công tác tuyển sinh, như: tuyên truyền, quảng bá, tư vấn tuyển sinh ở các vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn.

- Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

+ Sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Giáo dục nghề nghiệp.

+ Hỗ trợ kinh phí trong công tác dạy nghề đối với Nhà trường; tạo điều kiện về kinh phí cho Nhà trường đổi mới chương trình đào tạo để phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

          1. Công văn số 4004/ BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 31.7.2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng Đề án tự chủ tuyển sinh ĐH,CĐ hệ chính quy.

       2. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04.11.2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

       3. Quyết định 37/2013/QĐ-TTg ngày 26.06.2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường ĐH,CĐ giai đoạn 2006 - 2020.

       4. Quyết định 2160/QĐ-TTg ngày 11.11.2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

       5. Thông tư số 03/2015/TT-BGDĐT ngày 26.02.2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế Tuyển sinh ĐH,CĐ hệ chính quy.

       6. Thông tư số 03/2016/TT-BGDĐT ngày 14.3.2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh ĐH,CĐ hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BGDĐT ngày 26.02.2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

       7. Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác tuyển sinh, đào tạo của các trường Đại học TDTT trong giai đoạn hiện nay. TS. Lê Thanh, Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.

PGS.TS. Bùi Quang Hải