Công tác học sinh - sinh viên

ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC, PHÁT HUY CÓ HIỆU QUẢ CÁC THIẾT CHẾ VĂN HÓA, THỂ THAO CƠ SỞ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI

25 Tháng Mười Hai 2017          582 lượt xem

1. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi     

          Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo; với hơn 90 triệu người. Dân tộc Kinh là dân tộc đa số với hơn 85% (trên 78  triệu người), 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm hơn 14% tổng dân số cả nước (trên 12 triệu người), gọi chung là các đồng bào dân tộc thiểu số DTTS. Mỗi dân tộc có tiếng nói, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa riêng. Chính điều đó làm nên đặc điểm văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, giàu bản sắc. Trong 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có 52 tỉnh, thành phố có đồng bào dân tộc thiểu (DTTS) số cư trú tập trung theo cộng đồng; mà tập trung đông nhất ở vùng miền núi, trung du (chiếm 2/3 tổng diện tích đất liền Việt Nam) và Nam Bộ nước ta. Đa số các vùng cư trú từ lâu đời của các DTTS lại là vùng căn cứ địa Cách mạng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ trước đây và cũng là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên cương của Tổ quốc. Đó là những vùng giàu tiềm năng phát triển kinh tế và phát triển Du lịch, có vị trí hết sức trọng yếu về quốc phòng - an ninh của đất nước. Dù khác nhau về văn hóa, và trước đây cách xa nhau về nơi cư trú, nhưng các dân tộc lại có chung một Tổ quốc, một vận mệnh lịch sử quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thư gửi Đại hội các DTTS phía Nam ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các DTTS khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có Nha DTTS để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta..." [Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.: 2002. Tập 4. Sđd, tr.217 -218].

          2. Những chủ trương và chính sách dành cho đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao vùng đồng bào DTTS và miền núi

         - Đào tạo nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS và miền núi

          Mục 3, điều 61 Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nan năm 2013 quy định: “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề”. Các cơ quan chức năng ngành giáo dục đã chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan, xây dựng văn bản, thể chế hóa các chủ trương, đường lối, nghị quyết, nhiều chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trực tiếp liên quan đến giáo dục - đào tạo nói chung và đặc biệt là giáo dục - đào tạo dành cho đối tượng là người DTTS đã được Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành và tổ chức thực hiện có nhiều hiệu quả:

          Chính sách xây dựng và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú Quyết định số 1640/QĐ-TTg, ngày 21/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án củng cố và phát triển hệ thống trường Phổ thông Dân tộc nội trú giai đoạn 2011-2020. Tính đến nay, cả nước có 317 trường phổ thông dân tộc nội trú với khoảng 85.000 học sinh, đạt bình quân 7% học sinh DTTS cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông trong toàn quốc được học trong trường phổ thông dân tộc nội trú. Nhà nước tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường phổ thông dân tộc nội trú theo hướng trường trung học đạt chuẩn quốc gia và đảm bảo các điều kiện để nuôi dạy học sinh nội trú, hiện có khoảng 30% số trường phổ thông dân tộc nội trú đạt chuẩn quốc gia. Số người DTTS đạt trình độ trên đại học, đại học và cao đẳng tính đến nay trong cả nước có trên 13.000 người; có trình độ trung học chuyên nghiệp hơn 78.000 người.

          Tuy nhiên, ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo tỷ lệ mù chữ và tái mù còn cao. Theo báo cáo của Bộ GDĐT, các tỉnh trung du miền núi phía Bắc là trên 12%, vùng Tây Nguyên, ĐBSCL trên 11%. Một số tỉnh có tỷ lệ người mù chữ cao, như Lai Châu xấp xỉ 50%, Hà Giang 35%, Điện Biên trên 30%; cá biệt có tới 90% người La Hủ chưa được đi học... Cả nước hiện còn 1.064.615 người mù chữ, trong đó có 465.623 người DTTS. Người mù chữ tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL.

          Bên cạnh đó, tình trạng học sinh bỏ học còn nhiều, nhất là học sinh nữ con em các gia đình nghèo. Một số dân tộc ít người chưa có người tốt nghiệp trung học phổ thông. Đến nay, vẫn còn hơn 95% số lao động là người DTTS chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật và chưa qua đào tạo. Trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở vùng đồng DTTS còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Tỷ lệ cán bộ là người DTTS trong Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện còn thấp (khoảng 11,32%). Trong tổng số 48.200 cán bộ DTTS cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45,7%, tiểu học 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học.

          Chính sách cử tuyển học sinh vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu về cán bộ là người DTTS tại địa phương; Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Trong 5 năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến khoảng 3.000 - 4.000 chỉ tiêu/năm, nhưng trên thực tế các tỉnh chỉ đăng ký và thực hiện chưa đến 3.000 chỉ tiêu. Chỉ tiêu ít, nhưng hằng năm thực hiện không hết, việc đề xuất chỉ tiêu của địa phương và giao chỉ tiêu của Bộ GDĐT hàng năm chưa xác định được vùng cần được ưu tiên, dân tộc cần được quan tâm nhiều hơn, nhất là những tỉnh có nhiều xã đặc biệt khó khăn, có nhiều dân tộc, dẫn đến tình trạng lãng phí, có nơi thừa, nơi thiếu.

          Đối tượng và địa bàn cử tuyển là học sinh dân tộc sống tại các xã đặc biệt khó khăn, ở các địa bàn trên rất ít đối tượng đủ điều kiện cử tuyển; nhất là các DTTS rất ít người dẫn đến tình trạng phần lớn số học sinh đủ tiêu chuẩn để xét tuyển tập trung vào các DTTS có số dân đông như Tày, Nùng, Thái, Mường... Trong khi đó các dân tộc khác rất thiếu cán bộ cần được đào tạo nhưng lại không có nguồn. Điều đó, dẫn đến sự mất cân đối trong đào tạo của các DTTS. Số người có trình độ đại học của các DTTS còn rất thấp như: dân tộc Raglei chỉ chiếm 0,1%; Xtiêng 0,1%; Khơ Mú 0,1%; Pà Thẻn 0,1%; Kháng 0,1%; Mông 2%; Dao 0,2%; Gia Rai 0,2%; Ba Na 0,2%.... 6 dân tộc rất ít người chưa thống kê được gồm: La Hủ,  Lự, Ngái, Chứt, Lô Lô. La Ha…

Chính sách ưu tiên điểm đối với học sinh thi đại học, cao đẳng tạo cơ hội cho học sinh tại các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg, ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Hỗ trợ tiền ăn: Mỗi tháng được hỗ trợ bằng 40% mức lương tối thiểu chung và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh. Hỗ trợ tiền nhà ở: Đối với học sinh phải tự túc chỗ ở, mỗi tháng được hỗ trợ bằng 10% mức lương tối thiểu chung và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; Quyết định số 66/2013/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người DTTS học tại các cơ sở giáo dục đại học. Mức hỗ trợ chi phí học tập bằng 60% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 10 tháng/năm học/sinh viên; số năm được hưởng hỗ trợ chi phí học tập theo thời gian đào tạo chính thức. Quy định chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người DTTS thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, thi đỗ vào học đại học, cao đẳng hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại học, bao gồm: đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng. Mức hỗ trợ chi phí học tập bằng 60% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 10 tháng/năm học/sinh viên; số năm được hưởng hỗ trợ chi phí học tập theo thời gian đào tạo chính thức; Quyết định số 82/2005/-TTg ngày 18/4/2005 và Quyết định số 41/QĐ-TTg ngày 21/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ ưu đãi học sinh viên theo học bộ môn nghệ thuật truyền thống đặc thù trong trường văn hóa - nghệ thuật; Quyết định số 1341/QĐ-TTg ngày 08/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ “Đào tạo tài năng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”…

          - Sử dụng nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS và miền núi

          Thông tư số 02/2014/TTLT-BNV-UBDT, ngày 11/9/2014 của Bộ Nội vụ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc ban hành Thông tư liên tịch quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chính sách cán bộ, công chức, viên chức người DTTS quy định tại Điều 11 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc nêu rõ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội; cơ cấu vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; điều kiện, yêu cầu cụ thể của địa phương để tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị đảm bảo tỷ lệ hợp lý, tương ứng với tỷ lệ người DTTS tại địa phương. Ở các địa phương vùng DTTS, nhất thiết phải có cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý là người DTTS đã qua đào tạo”.

- Thiết chế văn hóa, thể thao vùng đồng bào DTTS và miền núi

          Cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy nhất trong hệ thống thiết chế văn hóa và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể. Yếu tố cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa, ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch quản lý bao gồm nhà văn hóa - khu thể thao ở thôn và tương đương, trung tâm văn hóa - thể thao ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, bao gồm: nhà thiếu nhi, cung thiếu nhi hoặc trung tâm hoạt động thanh, thiếu nhi; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ công nhân, viên chức, người lao động. Những cơ sở vật chất trên đây phải đi liền với trang thiết bị, tổ chức bộ máy, số lượng và trình độ cán bộ được đào tạo. Có như vậy, hệ thống thiết chế văn hóa mới phát huy hết vai trò quan trọng của mình.

Thực tiễn cho thấy, công tác tuyên truyền vận động nhân dân thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao có hiệu quả thiết thực, nhất là đối với đồng bào dân tộc. Nơi nào thực hiện tốt yêu cầu xây dựng và tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở thì có hiệu quả rõ rệt trong xây dựng đời sống văn hoá cơ sở; góp phần giữ gìn trật tự, an ninh - ổn định chính trị tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Song nhiều năm qua, sự đầu tư của Nhà nước cho hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao còn thấp, đặc biệt là đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS. Trong phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở trong những năm qua, ở một số nơi có vùng đông đồng bào DTTS còn thiếu vắng các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở đã tác động trực tiếp đến đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của các địa phương này.

Việc xây dựng và tổ chức hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở đồng bộ sẽ tạo nền tảng cho việc "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" góp phần thực hiện mục tiêu "Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh", tạo ra môi trường giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, phát triển toàn diện nguồn nhân lực. Do đó, cần thiết phải xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở trên địa bàn cả nước, đặc biệt vùng DTTS từ các cấp tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn và ở thôn, làng, bản, ấp. Yếu tố quyết định đến việc xây dựng và vận hành hoạt động của các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở là việc đào tạo và sử dụng nhân lực của các thiết chế. Những năm vừa qua, cùng với việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và các cơ chế hoạt động cho các thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở, các địa phương vùng đồng bào DTTS đã quan tâm đào tạo, phát triển và sử dụng nhân lực, tuy nhiên nguồn nhân lực này chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu. Do vậy, cần phải chú trọng hơn nữa đến đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại vùng đồng bào DTTS để phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở vùng đồng bào DTTS đã trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

3. Các nhiệm vụ và giải pháp

          a. Phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào các DTTS

          Rà soát, bổ sung, điều chỉnh, tăng cường mạng lưới các trường, cơ sở đào tạo ở vùng DTTS và miền núi để tập trung ưu tiên đào tạo con em đồng bào DTTS;

          Mở rộng dạy và học ngôn ngữ DTTS; tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên là người DTTS;

          Bổ sung, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người DTTS, vùng đặc biệt khó khăn;

          Củng cố, mở rộng quy mô hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, đảm bảo điều kiện sinh hoạt cho học sinh bán trú; thành lập Học viện Dân tộc để đào tạo đội ngũ trí thức, tạo nguồn cán bộ và phát triển nhân lực vùng DTTS;

          Nâng cao chất lượng hệ thống các trường dạy nghề, sửa đổi, bổ sung các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề phù hợp với năng lực;

          Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng thanh niên người DTTS đang tại ngũ để tạo nguồn cán bộ khi xuất ngũ về địa phương;

          Đẩy mạnh công tác giáo dục, phổ biến tuyên truyền pháp luật vùng DTTS. Chú trọng đến công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, luật sư là người DTTS;

          Khuyến khích, vận động và tranh thủ các nguồn vốn hợp pháp trong và ngoài nước để tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo ở vùng DTTS;

          b) Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người DTTS; củng cố an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội vùng DTTS và miền núi

          Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể đến từng bản, làng, ấp, phum, sóc (gọi chung là thôn), đặc biệt là vùng biên giới; tăng cường cán bộ các Bộ, ban, ngành, lực lượng vũ trang xuống cơ sở trọng điểm về an ninh, quốc phòng, khu vực biên giới;

          Thực hiện tốt chính sách động viên, khuyến khích già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia công tác kiểm tra, giám sát các chương trình, chính sách;

          Thực hiện quy hoạch, đào tạo, phân luồng, hướng nghiệp học sinh DTTS sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở và các cấp học khác để tạo nguồn cán bộ gắn với nhu cầu sử dụng của địa phương, đặc biệt chú trọng các vị trí cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở những vùng có đông đồng bào DTTS;

          Điều chỉnh, quy định cụ thể chỉ tiêu tuyển sinh người DTTS của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề ở vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ để tạo nguồn cán bộ và phát triển nguồn nhân lực DTTS;

          Xây dựng và triển khai thực hiện đề án phát triển đội ngũ cán bộ DTTS trong thời kỳ mới;

          Thực hiện công tác luân chuyển, chính sách khuyến khích, thu hút các nhà khoa học, nhà quản lý giỏi cho công tác dân tộc;

          Tạo điều kiện phát triển đội ngũ doanh nhân là người DTTS;

Xây dựng cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên DTTS sau khi tốt nghiệp.

          c) Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng DTTS

          Tập trung đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ đa mục tiêu phục vụ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, cấp nước sinh hoạt, khai thác thủy điện; tập trung đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật phục vụ việc nghiên cứu và nhân giống cây trồng, vật nuôi;

          Phát triển chợ đầu mối, mở rộng giao lưu, trao đổi, quảng bá hon hóa nông sản tại các vùng sản xuất tập trung, chợ dân sinh, chú trọng nâng cấp, cải tạo, quy hoạch hợp lý chợ biên giới, chợ nằm trong vùng kinh tế cửa khẩu;

          Quy hoạch sắp xếp, ổn định dân cư gắn với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng nông thôn mới;

          Phát triển hạ tầng truyền dẫn phát triển đồng bộ, đảm bảo chuyển tải được các dịch vụ phát thanh, truyền hình, viễn thông và công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của vùng đồng bào DTTS;

          Đầu tư xây dựng trung tâm văn hóa, thể thao tại các xã, cụm xã.

          d) Phát triển toàn diện các lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe

          Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe người dân, đầu tư hoàn thiện trạm y tế xã; đào tạo đội ngũ cán bộ y tế thôn, bản đạt chuẩn, phát triển mạnh y tế dự phòng;

          Xây dựng chính sách, biện pháp giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống;

          Xây dựng chính sách khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ khám bệnh định kỳ ở các cơ sở y tế; chính sách hỗ trợ dinh dưỡng cho các cháu mẫu giáo, mầm non và học sinh tiểu học để cải thiện tầm vóc, sức khỏe thanh, thiếu niên các DTTS.

          đ) Bảo tồn, phát triển văn hóa, xã hội vùng DTTS

          Phát triển toàn diện văn hóa DTTS; chính sách giữ gìn, bảo tồn, tôn vinh và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào DTTS; xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa gắn với việc bảo quản, gìn giữ, bảo tồn di tích lịch sử ở từng vùng, từng địa phương; xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ mê tín, dị đoan, hủ tục lạc hậu;

          Xây dựng chính sách đặc thù hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới, hỗ trợ trẻ em, nhất là trẻ em nghèo vùng DTTS và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

          e) Tăng cường công tác thanh kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước

          Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng các thiết chế văn hóa, kịp thời phát hiện, khắc phục những sai lệch, tiêu cực, có biện pháp giải quyết phù hợp; biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích tốt trong công tác đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở vùng đồng bào DTTS nhằm đảm bảo phát triển các giá trị văn hóa dân tộc bền vững, xây dựng và phát triển tầm vóc con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một việc làm cần thiết, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn hiện nay./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1). Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Công tác dân tộc.

2). Quyết định số 221/QĐ-TTg, ngày 09/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Chương trình Quốc gia phát triển nhân lực đến năm 2020.

3). Chỉ thị số 1971/CT-TTg, ngày 27/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác dân tộc trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước.

4). Quyết định số 1270/QĐ-TTg, ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020”.  

5). Quyết định số 1640/QĐ-TTg, ngày 21/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án củng cố và phát triển hệ thống trường Phổ thông Dân tộc nội trú giai đoạn 2011-2020.

6). Quyết định số 449/QĐ-TTg, ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020.

          7). Quyết định số 1405/QĐ-BVHTTDL, ngày15/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc xây dựng Dự án “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở vùng DTTS”.

8). Quyết định số 2164/QĐ-TTg, ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013-2020, định hướng đến năm 2030.

          9). Quyết định số 2356/QĐ-TTg, ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020.

          10). Chiến lược Phát triển văn hóa đến năm 2020, ban hành theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

                                                                                                                         TS. Đoàn Tiến Lộc

                                                                                                   Chuyên viên chính Vụ Đào tạo - Bộ VHTTDL