19 Tháng Mười Một 2017

Sách, giáo trình, tài liệu tham khảo

Bấm để xem ảnh lớn

Một số vấn đề xung quanh việc đào tạo nghệ thuật truyền thống dân tộc hiện nay

Chủ biên: GS.TS. Đào Mạnh Hùng
Năm xuất bản: 2015

Sân khấu kịch hát dân tộc hình thành trong quá trình lao động của nhân dân  và phát triển song hành với lịch sử của dân tộc, là một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc của nền văn hoá dân tộc Việt Nam.

Từ lịch sử hình thành và những đặc trưng thể loại, kịch hát dân tộc rất gần gũi với đời sống nhân dân lao động và được các tầng lớp nhân dân lao động coi trọng, yêu mến, trở thành một nhu cầu về tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hoá của  người dân Việt Nam.  

 Việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật sân khấu truyền thống dân tộc đã được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo trực tiếp thể hiện tại đường lối văn hoá - văn nghệ, các chỉ thị nghị quyết của Đảng cùng với những chính sách ưu tiên cho việc bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc trong đó có nghệ thuật sân khấu truyền thống.

 Trong bối cảnh giao lưu hội nhập hiện nay, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, diện mạo sân khấu dân tộc đã có những biểu hiện đáng phải quan tâm. Một số tác phẩm đã có biểu hiện chạy theo thị hiếu của một số ít khán giả, làm mất đi những giá trị quý giá của cha ông ta từ ngàn xưa để lại, tạo ra cho bộ mặt sân khấu dân tộc những sản phẩm lai căng Chèo không ra Chèo, Tuồng không ra Tuồng... và thiếu tính thuyết phục. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có từ rất nhiều phía, và một trong những nguyên nhân quan trọng là chất lượng đào tạo nghệ thuật truyền thống, dân tộc chưa được quan tâm nhiều. Việc đào tạo nghệ thuật biểu diễn kịch hát truyền thống, kịch hát dân tộc hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn trên tất cả mọi lĩnh vực, từ tuyển sinh đến đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo.

Hiện nay trên cả nước có 58 cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật với danh mục chương trình đào tạo 66 ngành, 152 chuyên ngành. Tại hầu hết các cơ sở đào tạo này đều có ít nhất một hoặc nhiều chuyên ngành đào tạo nghệ thuật biểu diễn kịch hát dân tộc, truyền thống. Những chuyên ngành đó là: Diễn viên Tuồng, Diễn viên Chèo, Diễn viên Rối (trong đó có rối nước, rối cạn) Diễn viên Cải lương, Diễn viên Dân ca (Bài chòi, Dân ca Nam bộ, Dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Huế, dân ca Quan họ Bắc Ninh, Dân ca các dân tộc miền núi phía Bắc và dân ca các vùng miền Nam Bộ...) và nhạc công sử dụng các nhạc cụ dân tộc. Tại các cơ sở này, phần lớn quy mô đào tạo dành cho nghệ thuật biểu diễn ca kịch dân tộc, truyền thống hiện còn rất nhỏ, phương pháp giảng dạy chủ yếu còn thô sơ, chương trình giảng dạy phần lớn đã lạc hậu, và còn tồn tại rất nhiều bất cập, cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo nhiều nơi đã xuống cấp trầm trọng, điều kiện phục vụ cho việc dạy và học nghệ thuật biểu diễn kịch hát dân tộc, truyền thống luôn ở trong tình trạng khó khăn, thiếu thốn. Bên cạnh đó, lực lượng các nghệ nhân, nghệ sĩ tham gia giảng dạy ngày một ít đi do tuổi tác và do những chế độ, chính sách về giảng viên chưa thật hợp lý. Các giảng viên trẻ tuy có bằng cấp nhưng nhiều người chưa đủ kinh nghiệm, thiếu thực tế, năng lực chuyên môn còn non lại bị chi phối bởi một số quan điểm tùy tiện trong việc “cải tiến” nghệ thuật diễn xuất (đặc biệt là múa và hát), điều đó dẫn đến chất lượng đào tạo ngày càng thấp, sản phẩm bị lai căng tùy tiện, nguồn nhân lực sau đào tạo không đủ năng lực phục vụ trong các đơn vị nghệ thuật truyền thống, dân tộc từ Trung ương đến các địa phương.

Bên cạnh đó, tại các đơn vị nghệ thuật kịch hát dân tộc, truyền thống có nhiều khó khăn về chỉ tiêu biên chế, khiến học sinh sau khi tốt nghiệp có ít cơ hội để thực tập nghề.

 Những lý do trên đã khiến thế hệ trẻ thờ ơ với nghệ thuật biểu diễn kịch hát dân tộc. Chỉ tiêu hàng năm cho các chuyên ngành diễn viên Tuồng, Chèo, Rối, Cải lương, Kịch hát dân ca, nhạc công kịch hát dân tộc tại các trường Văn hoá nghệ thuật không nhiều, nhưng lượng thí sinh đến dự thi cũng rất ít. Việc tổ chức đào tạo gặp nhiều khó khăn khi lực lượng giảng viên thiếu, cơ sở đào tạo chưa được nâng cấp để đáp ứng nhu cầu đào tạo...

Thực trạng đó đòi hỏi  cần tìm ra những bất cập trong tổ chức đào tạo, từ đó đề xuất những giải pháp để đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghệ thuật  kịch hát dân tộc tại các trường văn hoá nghệ thuật.

Nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tại các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay, tiến tới đáp ứng phù hợp và ngang tầm với xu thế quốc tế nhằm cung cấp cho các đơn vị nghệ thuật những nghệ sỹ giỏi là mục đích cao cả trong đào tạo văn hóa nghệ thuật hiện nay. Để đạt mục đích đó theo tôi các địa phương và cơ sở đào tạo cần chú ý tăng cường những biện pháp cụ thể sau:

 -  Xác định rõ những đặc trưng của nghệ thuật kịch hát dân tộc, truyền thống và đặc thù của công tác đào tạo nghệ thuật biểu diễn kịch hát dân tộc, truyền thống để tìm ra những phương pháp đào tạo phù hợp và đảm bảo chất lượng cao.

 -  Sắp xếp lại chương trình, đào tạo chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn kịch hát dân tộc, truyền thống cho hợp lý, tăng giờ thực hành diễn xuất có sự hướng dẫn của các nghệ nhân, nghệ sĩ , đưa nghệ thuật truyền thống dân ca của địa phương vào chương trình đào tạo của Trường vừa đáp ứng nhu cầu thưởng thức của nhân dân địa phương , vừa góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị nghệ thuật của vùng miền.

-  Đổi mới phương pháp đào tạo diễn viên kịch hát dân tộc, truyền thống đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập, trong thực tế trong một chương trình đào tạo đã cố định, nhưng mỗi giảng viên đều có một phương pháp giảng dạy riêng, chúng ta tôn trọng điều đó, nhưng cần đặc biệt quan tâm đến hiệu quả giảng dạy. Để có một học trò giỏi không thể thiếu người thày giỏi, nhất là đối với nghệ thuật biểu diễn Kịch hát dân tộc.

-  Đổi mới mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở sử dụng nhân lực. Hình thành cơ chế gắn bó trách nhiệm giữa đào tạo và xử dụng diễn viên ca kịch dân tộc, truyền thống (giữa cơ sở đào tạo và các nhà hát) chỉ tiêu đào tạo cho các chuyên ngành hàng năm của nhà trường phải được xây dựng từ nhu cầu của xã hội, của các nhà hát có như vậy đầu ra của chúng ta mới được đảm bảo, và không quên lời dạy của các bậc tiền nhân “ phải tăng tinh và giảm thô”.

- Đổi mới chế độ chính sách giảng viên ca kịch dân tộc, truyền thống. Đi cùng với sự đổi mới công tác kiểm tra chất lượng giảng dạy và học tập. Xây dựng văn bản chuẩn đầu ra, công khai chất lượng đầu ra, công khai lực lượng và trình độ giảng viên chấm dứt tình trạng không quản lý được chất lượng đào tạo, đào tạo kém chất lượng, gây lãng phí tiền của nhà nước và kém hiệu quả với các đơn vị sử dụng nguồn lực sau đào tạo.

-  Từ thực tế kết quả đào tạo tại các trường văn hóa nghệ thuật trong những năm qua, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận rằng: Bên cạnh những thành công trong đào tạo nghệ thuật truyền thống dân tộc, những nghệ sĩ giỏi sau khi được đào tạo đã cống hiến cho xã hội nhiều tác phẩm và vai diễn hay, góp phần bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống dân tộc, vẫn còn tồn tại việc đào tạo không đạt chất lượng, không đáp ứng được nhu cầu xã hội và nhu cầu của các đơn vị nghệ thuật từ trung ương đến các địa phương. Điều đó đã làm lãng phí nguồn lực của xã hội, dẫn đến sự giảm sút uy tín của nhà trường, đào tạo chất lượng kém sẽ mất dần số lượng người đến đăng ký dự thi tuyển, mất dần tín nhiệm và “thương hiệu” của nhà trường. Những tiêu cực trong đào tạo và chất lượng thấp thi đầu vào, thi tốt nghiệp ảnh hưởng lớn đến tương lai của sinh viên.

Đối với đào tạo nghệ thuật nói chung và nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc nói riêng cần xác định đây là nhiệm vụ quan trọng mang ý nghĩa bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế khi mà các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là Internet đang ồ ạt chuyển tải văn hoá thế giới đến với Việt Nam thì việc đào tạo nghệ thuật truyền thống dân tộc chuẩn mực và có chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những tinh hoa của văn hoá dân tộc giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Chính vì những ý nghĩa cao quý đó cần có sự lỗ lực của các cơ sở đào tạo, các thế hệ giảng viên, học sinh sinh viên và sự quan tâm của toàn xã hội.

 

Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn của Sơn Nam

Chủ biên:Võ Văn Thành
NXB:Nxb Trẻ
Năm xuất bản:2015
chi tiết

Hóa trang sân kháu tuồng

Chủ biên:Đoàn Thị Tịnh
NXB:Mỹ thuật
Năm xuất bản:2015
chi tiết

Nữ nghệ sĩ tạo hình Việt Nam

Chủ biên:Nhà Xuất bản Mỹ thuật
NXB:Mỹ thuật
Năm xuất bản:2014
chi tiết

Gốm Việt Nam - Kỹ thuật và nghệ thuật

Chủ biên:Trấn Khánh Chương
NXB:Mỹ thuật
Năm xuất bản:2014
chi tiết